|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Bản án số: 112/2024/DS-ST. Ngày: 23-8-2024. “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Cảnh.
- Ông Lê Thành Đông.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Trúc – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 467/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty T1 (tên công ty viết tắt HD SAISON).
Trụ sở: Lầu 8, 9, 10 Tòa nhà G, Số B, Đường P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hữu N, chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Võ Thế P – Chuyên viên Pháp lý Tố tụng thuộc Phòng Thu hồi nợ của Công ty T1. (văn bản ủy quyền số 231117-8-CCO ngày 17/11/2023)
-
Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Số C, ấp L (Ấp A), xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa, ông P và ông T vắng mặt (ông P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, đơn trình bày ý kiến, đơn trình bày, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn là Công ty T1 (Công ty) và người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Công ty là ông Võ Thế P trình bày:
Ngày 16/09/2015, ông Nguyễn Văn T đã ký Hợp đồng tín dụng số 2W002513704 với Công ty T1. Theo Hợp đồng, ông T đã vay số tiền 29.580.000 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng) với lãi suất 56%/năm, mục đích để mua xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát số 71B2-616.89, số khung 0610FY074393, số máy G3D4E-084193. Theo đó, vào ngày 15 hàng tháng, ông T phải thanh toán cho Công ty số tiền 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) liên tục trong 15 kỳ trả góp bắt đầu từ ngày 15/10/2015 đến ngày 15/12/2016. Tiền góp mỗi tháng là sự thỏa thuận giữa khách hàng và Công ty dựa trên khả năng tài chính của khách hàng: tiền gốc phải thanh toán = tiền góp mỗi tháng – tiền lãi phải thanh toán; dư nợ gốc còn lại của mỗi kỳ = dư nợ gốc đầu kỳ - tiền gốc đã thanh toán trong kỳ trước đó; tiền lãi phải thanh toán (trong hạn) = dư nợ gốc đầu kỳ x lãi suất thực tế tháng.
Ông T có thế chấp cho Công ty với tài sản thế chấp là chiếc xe nêu trên. Hiện Công ty không có giữ chiếc xe này mà đang lưu giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và giao cho ông T bản sao y chứng thực để lưu hành. Khi ông T hoàn tất các nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng thì Công ty sẽ hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy cho ông T. Công ty không yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe máy trong vụ án này.
Từ khi ký Hợp đồng, ông T đã thanh toán cho Công ty số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), trong đó:
- Tiền gốc đã thanh toán: 1.560.616 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm mười sáu đồng);
- Tiền lãi đã thanh toán: 1.244.367 đồng (một triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm sáu mươi bảy đồng);
- Tiền lãi quá hạn đã thanh toán: 195.017 đồng (một trăm chín mươi lăm nghìn không trăm mười bảy đồng).
Kể từ thời điểm xảy ra vi phạm, ngày 16/11/2015, Công ty đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu ông T tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ thanh toán đối với Công ty theo Hợp đồng. Tuy nhiên, ông T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và còn nợ Công ty số tiền là 41.037.596 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó bao gồm: tiền gốc chưa thanh toán: 28.019.384 đồng; tiền lãi chưa thanh toán theo thỏa thuận tại Hợp đồng tính từ ngày 15/11/2015 đến ngày 15/05/2016: 7.567.060 đồng; tiền lãi quá hạn chưa thanh toán tính từ ngày 16/11/2015 đến ngày trên đơn khởi kiện 05/12/2022: 5.451.152 đồng.
* Về phần lãi trong hạn: Căn cứ vào mục 5.8 Hợp đồng tín dụng số 2W002513704, khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 và khoản 3 Mục III Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao:
Công ty và ông T thỏa thuận lãi suất theo dư nợ giảm dần là 56%/năm (4.67%/tháng). Thời điểm tính lãi suất tương ứng với thời gian vay chưa trả (từ kỳ thứ 2 đến kỳ thứ 15). Tuy nhiên, nhằm tạo điều kiện cho ông T có thể thanh toán khoản nợ, Công ty tự nguyện giảm phần lãi từ kỳ thứ 9 đến thứ 15 và chỉ yêu cầu ông T thanh toán tiền lãi từ kỳ thứ 2 đến kỳ thứ 8 là 7.567.060 đồng (bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi đồng).
* Về phần lãi quá hạn: theo thỏa thuận tại mục 9.9.2 Hợp đồng tín dụng số 2W002513704 thì khoản tiền này được tính bằng 150% của mức lãi suất thực tế tháng trên số tiền gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian trễ hạn thanh toán. Kể từ 16/11/2015 (ngày vi phạm) cho tới ngày 05/12/2022 (ngày trên đơn khởi kiện) ông T đã trễ hạn thanh toán 84 tháng. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho ông T có thể thanh toán khoản nợ, Công ty chỉ tính khoản tiền lãi quá hạn bằng mức lãi suất 10%/năm, tiền lãi quá hạn được tính là 10%/12 x 84 tháng x 28.019.384 đồng = 19.613.568 đồng (mười chín triệu sáu trăm mười ba nghìn năm trăm sáu mươi tám đồng) nhưng Công ty giảm một phần tiền lãi quá hạn và chỉ yêu cầu ông T thanh toán khoản tiền lãi quá hạn là 5.451.152 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn một trăm năm mươi hai đồng).
Công ty yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T thanh toán một lần toàn bộ số tiền chưa thanh toán tính đến ngày khởi kiện (ngày 05/12/2022) là 41.037.596 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng) ngay khi Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Công ty không yêu cầu ông T thanh toán thêm các khoản lãi phát sinh kể từ thời điểm Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết đến khi xét xử.
Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu lãi suất chậm thanh toán kể từ ngày Công ty có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T không thanh toán số tiền nêu trên thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ông P xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án vì tính chấp công việc nên ông phải thường xuyên đi công tác dài ngày tại các khu vực địa phương khác nhau, do đó ông không thể có mặt kịp thời tại Tòa án để tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm. Kính đề nghị Tòa án căn cứ vào Đơn khởi kiện, các tai liệu chứng cứ và lời khai của ông đã trình bày trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn Công ty T1 và người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Thế P thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn ông T dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng không tham gia các
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1.
Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 số tiền 41.037.596 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó gồm tiền gốc là 28.019.384 đồng (hai mươi tám triệu không trăm mười chín nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng), tiền lãi trong hạn là 7.567.060 đồng (bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi đồng), tiền lãi quá hạn là 5.451.152 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn một trăm năm mươi hai đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả tiền cho Công ty theo Thỏa thuận tín dụng số 2W002513704 ngày 16/9/2015. Ông T là bị đơn trong vụ án cư trú tại xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông P và ông T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền là 41.037.596 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó bao gồm: tiền gốc chưa thanh toán là 28.019.384 đồng (hai mươi tám triệu không trăm mười chín nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng); tiền lãi chưa thanh toán theo Thỏa thuận tính dụng tính từ ngày 15/11/2015 đến ngày 15/05/2016 là 7.567.060 đồng (bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi đồng); tiền lãi quá hạn chưa thanh toán tính từ ngày 16/11/2015 đến ngày trên đơn khởi kiện (ngày 05/12/2022) là 5.451.152 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn một trăm năm mươi hai đồng).
Căn cứ Công ty khởi kiện là Thỏa thuận tính dụng số 2W002513704 ngày 16/9/2015; Bảng chi tiết thanh toán ngày 15/11/2022; Bảng lịch sử thanh toán ngày 15/11/2022; tra cứu Nội dung lệnh chuyển tiền của Ngân hàng N1 ngày 20/6/2024;
[2.2] Với yêu cầu và căn cứ khởi kiện của Công ty, ông T không có ý kiến phản đối và không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
[2.3] Theo nguyên đơn cho rằng bị đơn là ông T đã ký Thỏa thuận tín dụng số 2W002513704 ngày 16/9/2015 để vay của nguyên đơn số tiền 29.580.000 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), số kỳ trả góp là 15 kỳ (tháng), lãi suất thực tế là 4.67%/tháng, khoản trả góp hàng tháng 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng), ngày trả góp đầu tiên là 15/10/2015; mục đích vay để mua 01 chiếc xe: nhà sản xuất (nhãn hiệu) YAMAHA, mẫu số YAMAHA EXCITER, số khung RLCU0610FY074393, số máy G3D4E-084193, giá trị là 43.500.000 đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) của M, địa chỉ: G, Khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Trong đó, ông T trả tiền mặt cho M 4 số tiền 13.920.000 đồng (mười ba triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), Công ty C cho ông T số tiền 29.580.000 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Đồng thời tại Mục “Chữ ký Bên vay” của Thỏa thuận tín dụng có chữ ký và chữ viết đề tên Nguyễn Văn T. Bên dưới chữ viết đề tên Nguyễn Văn T có nội dung “Tôi đã đọc kỹ và đồng ý với tất cả điều khoản và điều kiện của Thỏa thuận, đặc biệt các điều khoản và điều kiện quy định chi tiết tại Mục 9 của Thỏa thuận này”.
Theo Hợp đồng hợp tác số BTR012/2015/HD-SAL giữa Doanh nghiệp tư nhân C1 – Chi nhánh 3 và Công ty T1 ngày 15/6/2015 thì số tài khoản của Doanh nghiệp tư nhân C1 là 070001765505 tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B. Tại Điều 5 của Hợp đồng quy định Công ty sẽ chuyển khoản cho Bên bán khoản cấp vốn trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Công ty nhận được đầy đủ các hồ sơ có liên quan...
Theo tra cứu Nội dung lệnh chuyển tiền ngày 20/6/2024 của Ngân hàng N1 thì vào ngày 18/9/2015 HD SAISON FINANCE CO.LTD HD SAISON (tên Công ty T1 bằng tiếng nước ngoài) đã chuyển cho Doanh nghiệp tư nhân C1 theo số tài khoản nêu trên với số tiền là 29.580.000 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), nội dung chuyển tiền là 2W002513704.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở xác định ngày 16/9/2015, ông T có ký Thỏa thuận tín dụng số 2W002513704 để vay của Công ty T1 số tiền là 29.580.000 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), số kỳ trả góp là 15 kỳ (tháng), lãi suất thực tế là 4.67%/tháng, khoản trả góp hàng tháng 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) bao gồm tiền gốc và lãi, ngày trả góp đầu tiên là 15/10/2015, ngày trả góp cuối cùng là 15/12/2016. Theo nguyên đơn cho rằng, ngày 11/11/2015, ông T thanh toán kỳ đầu tiên cho Công ty số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Tại Bảng chi tiết thanh toán ngày 15/11/2022 của Công ty thì số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) này được thanh toán cho kỳ đầu tiên bao gồm tiền gốc 1.560.616 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm mười sáu đồng), lãi trong hạn 1.225.341 đồng (một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi mốt đồng), lãi quá hạn 195.017 đồng (một trăm chín mươi lăm nghìn không trăm mười
bảy đồng), số tiền còn lại là 19.026 đồng (mười chín nghìn không trăm hai mươi sáu đồng) được chuyển sang kỳ trả góp kế tiếp (lãi phải trả cho kỳ trả góp đến hạn) là phù hợp với quy định tại Mục 9.5.3 và Mục 9.5.4 của Thỏa thuận tín dụng nêu trên. Sau đó ông T không tiếp tục thanh toán cho Công ty như đã thỏa thuận và còn nợ 14 kỳ trả góp cho Công ty với số tiền gốc là 28.019.384 đồng (hai mươi tám triệu không trăm mười chín nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng) và tiền lãi. Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Bên vay, nên việc Công ty khởi kiện yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền gốc 28.019.384 đồng (hai mươi tám triệu không trăm mười chín nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng) và tiền lãi là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.
[2.4] Về lãi suất, căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và Điều lệ Công ty T1 thì Công ty T1 là công ty tài chính tín dụng tiêu dùng được phép cấp tín dụng cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng, phát hành thẻ tín dụng là tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”
Và Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định:
- “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất.
- 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất."
Vì vậy, việc thỏa thuận lãi suất của Công ty với ông T trong Thỏa thuận tín dụng số 2W002513704 ký ngày 16/9/2015 là phù hợp theo quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tiền lãi trong hạn, để tạo điều kiện cho ông T trả nợ nên nguyên đơn giảm bớt lãi, nguyên đơn yêu cầu ông T trả lãi trong hạn tính từ kỳ thứ 02 đến kỳ thứ 08 (từ ngày 15/11/2015 đến ngày 15/05/2016) với số tiền lãi là 7.567.060 đồng (bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi đồng), không yêu cầu ông T trả lãi trong hạn từ kỳ thứ 09 đến kỳ thứ 15. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tiền lãi quá hạn, theo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông P cho rằng tiền lãi quá hạn căn cứ vào Mục 9.9.2 của Thỏa thuận tín dụng. Tại Mục 9.9.2 của Thỏa thuận tín dụng quy định “Nếu Bên vay vi phạm các nghĩa vụ
thanh toán được quy định tại Mục 9.5, Bên vay sẽ phải thanh toán cho Bên cho vay khoản phạt bằng một trăm năm mươi phần trăm (150%) của Lãi suất thực tế tháng (quy định tại Mục 5.8) của khoản trả góp hàng tháng chưa thành toán...”.
Như vậy, từ ngày 16/11/2015, khoản trả góp của kỳ 02 là 2.766.931 đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/12/2015, khoản trả góp của kỳ 03 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/01/2016, khoản trả góp của kỳ 04 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/02/2016, khoản trả góp của kỳ 05 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/3/2016, khoản trả góp của kỳ 06 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/4/2016, khoản trả góp của kỳ 07 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/5/2016, khoản trả góp của kỳ 08 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/6/2016, khoản trả góp của kỳ 09 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/7/2016, khoản trả góp của kỳ 10 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/8/2016, khoản trả góp của kỳ 11 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/9/2016, khoản trả góp của kỳ 12 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/10/2016, khoản trả góp của kỳ 13 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/11/2016, khoản trả góp của kỳ 14 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn; từ ngày 16/12/2016, khoản trả góp của kỳ 15 là 2.785.957 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng) chuyển sang nợ quá hạn. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho ông T trả nợ nên nguyên đơn giảm bớt lãi cho ông T, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi quá hạn đối với số tiền nợ gốc là 28.019.384 đồng (hai mươi tám triệu không trăm mười chín nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng) với lãi suất 10%/năm, thời gian tính đến ngày 05/12/2022 là 84 tháng (tức thời gian bắt đầu tính lãi từ tháng 12/2016) với số tiền lãi là 19.613.568 đồng (mười chín triệu sáu trăm mười ba nghìn năm trăm sáu mươi tám đồng) và chỉ yêu cầu ông T trả tiền lãi quá hạn là 5.451.152 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn một trăm năm mươi hai đồng). Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Tổng cộng ông T có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 số tiền 28.019.384 đồng + 7.567.060 đồng + 5.451.152 đồng = 41.037.596 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng).
[2.6] Đối với việc nguyên đơn yêu cầu ông T phải chịu lãi suất chậm thanh
toán kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T không thanh toán số tiền nêu trên thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án, xét thấy, theo điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”, tuy nhiên do nguyên đơn yêu cầu ông T phải chịu lãi suất chậm thanh toán kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T không thanh toán số tiền nêu trên thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án, điều này là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.7] Ngoài ra tại Đơn trình bày ý kiến ngày 14/12/2023, 25/6/2024, 02/8/2024 của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông P cho rằng ông T có thế chấp cho Công ty với tài sản thế chấp là xe máy nêu trên. Công ty không có giữ xe máy này mà giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và cấp cho ông T bản sao y chứng thực để lưu hành. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp và đồng ý trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy cho ông T khi ông T hoàn tất các nghĩa vụ thanh toán với Công ty. Xét thấy, tại Mục 9.3.3 của Thỏa thuận tín dụng có nêu “trong thời gian có hiệu lực của thỏa thuận này Bên vay chấp thuận và đồng ý rằng bản chính giấy đăng ký xe sẽ được lưu giữ bởi Bên cho vay...và sẽ được trả lại cho Bên vay sau khi Bên vay hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán của Thỏa thuận này...” nên việc Công ty giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của ông T là dựa trên sự thỏa thuận của các bên trong Thỏa thuận tính dụng. Đồng thời do Công ty và ông T không có tranh chấp đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 5% của số tiền 41.037.596 đồng là 2.051.880 đồng (hai triệu không trăm năm mươi mốt nghìn tám trăm tám mươi đồng).
Công ty T1 không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty T1.
Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 số tiền là 41.037.596 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: tiền gốc 28.019.384 đồng (hai mươi tám triệu không trăm mười chín nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng); tiền lãi trong hạn 7.567.060 đồng (bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi đồng); tiền lãi quá hạn 5.451.152 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn một trăm năm mươi hai đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí là 2.051.880 đồng (hai triệu không trăm năm mươi mốt nghìn tám trăm tám mươi đồng).
Công ty T1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.025.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002595 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Đỗ Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 112/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn