Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/DS-ST

Ngày: 18/6/2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng
  2. Bà Võ Thanh Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 288/2023/TLST-DS, ngày 30/11/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2024/QĐST-DS ngày 06/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 458/2024/QĐST-DS ngày 24/5/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1

Trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978

Địa chỉ liên lạc: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1987

Nơi cư trú: 2 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 có ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 20/10/2020, ông Phạm Văn S có ký Hợp đồng tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) với Ngân hàng TMCP S1 với hạn mức cấp thẻ là 45.000.000 đồng, lãi suất 2,4%tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi kích hoạt thẻ, ông S đã thực hiện giao dịch với số tiền là 43.924.213 đồng, tính đến tháng 02/2021 ông S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 499.500 đồng. Sau đó, ông S không tiếp tục thanh toán cho ngân hàng. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ, nhưng ông S vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do ông S vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 06/4/2021, Ngân hàng đã chấm dứt việc sử dụng thẻ và chuyển sang nợ quá hạn, tạm tính đến ngày 18/3/2024 ông S còn nợ số tiền là 118.156.348 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP S1 buộc ông Phạm Văn S thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 18/3/2024 là 118.156.348 đồng (trong đó nợ gốc là 51.515.466 đồng, lãi quá hạn là 66.640.882 đồng), kể từ ngày 19/3/2024 ông S còn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng.

Bị đơn ông Phạm Văn S: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông S, để ông S thực hiện việc tham gia tố tụng tại Tòa án, nhưng ông S vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa,

Ngân hàng TMCP S1 có ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc ông Phạm Văn S thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 123.843.696 đồng (trong đó nợ gốc là 51.515.466 đồng, lãi quá hạn là 72.328.230 đồng), kể từ ngày 19/6/2024 ông S còn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng.

Bị đơn ông Phạm Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Do ông Phạm Văn S vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện theo đúng thỏa thuận, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký kết.

Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét Ngân hàng TMCP S1 khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn S thanh toán số tiền nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng; Ông Phạm Văn S có nơi cư trú tại Quận D, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 có ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt; Bị đơn là ông Phạm Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu ông Phạm Văn S thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 123.843.696 đồng (trong đó nợ gốc là 51.515.466 đồng, lãi quá hạn là 72.328.230 đồng), kể từ ngày 19/6/2024 ông S còn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng.

Hội đồng xét xử căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định Ngân hàng TMCP S1 cấp thẻ tín dụng cho ông Phạm Văn S hạn mức là 45.000.000 đồng, lãi suất 2,4%tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Xét việc thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để xem xét.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 43.924.213 đồng, tính đến tháng 02/2021 ông S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 499.500 đồng. Sau đó, ông S không thanh toán, mặc dù ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần. Do ông S vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 06/4/2021, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu là 118.156.348 đồng sang nợ quá hạn. Như vậy, ông S đã vi phạm Điều 18 và Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu ông S thanh toán số tiền nợ còn thiếu là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1, buộc ông Phạm Văn S thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 123.843.696 đồng (trong đó nợ gốc là 51.515.466 đồng, lãi quá hạn là 72.328.230 đồng). Kể từ ngày 19/6/2024, cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Văn S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và ông Phạm Văn S.

[2.2]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.

Buộc ông Phạm Văn S thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 123.843.696 (một trăm hai mươi ba triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm chín mươi sáu) đồng (trong đó nợ gốc là 51.515.466 đồng, lãi quá hạn là 72.328.230 đồng).

Kể từ ngày 19/6/2024, cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Văn S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và ông Phạm Văn S.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phạm Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.192.184 (sáu triệu một trăm chín mươi hai nghìn một trăm tám mươi bốn) đồng.

- H lại số tiền tạm ứng án phí là 2.644.000 (hai triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đã nộp theo biên lai số 0042607 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Hồng Loan

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Kim Hoàng    Võ Thanh Nga Nguyễn Trần Hồng Loan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 121/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S1 / Phạm Văn S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger