Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/DS-PT

Ngày: 15/8/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Bắc

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và Nguyễn Mạnh Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Lệ Hoài- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2024/TLPT-DS ngày 03/7/2024 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất". Do bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS- ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 144/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Dương Thị Q, sinh năm 1983- Có mặt
    Nơi cư trú: Xóm L, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Bà Dương Thị T, sinh năm 1975- Có mặt
    Nơi cư trú: Xóm R, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

- Bị đơn: Ông Hoàng Đình H, sinh năm 1974- Có mặt
Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Phạm Văn K - Luật sư Văn phòng L1, chi nhánh S1- Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số C, đường Đ, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội- Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Dương Thị N, sinh năm 1975- Có mặt
    Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Ông Dương Đình S, sinh năm 1966- Vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969- Vắng mặt
    Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Ông Dương Đình P, sinh năm 1969- Vắng mặt

Đại diện theo ủy quyền của ông P: Bà Dương Thị T, sinh năm 1975- Có mặt
Nơi cư trú: Xóm R, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Dương Thị Quy trình bày: Bà được cấp quyền sử dụng thửa đất số 338, tờ bản đồ số 8, diện tích 520m², vị trí thửa đất ở gần cổng Trường Q1. Nguồn gốc thửa đất do bà được mẹ đẻ tặng cho riêng vào năm 2011, đã được cấp GCN QSD đất mang tên bà vào năm 2019. Bà đã sử dụng thửa đất ổn định, liên tục từ năm 2011 đến nay. Thửa đất có bờ thửa rõ ràng. Đến khoảng năm 2015, 2016 bà thấy gia đình ông H đổ đất tràn sang thửa đất 338, bà đã trao đổi với ông H, yêu cầu ông H múc hết đất tràn sang ruộng đi nhưng vợ chồng ông H không thực hiện. Đến năm 2020, bà thấy gia đình ông H xây bờ rào kiên cố lấn sang thửa đất của bà nên đã đến trao đổi với ông H tạm ngừng xây tường rào, đề địa chính xã đến xác định ranh giới các thửa đất của hai bên gia đình, sau đó xây dựng ranh giới thửa đất nhưng ông H vẫn tiếp tục xây và nói xây lấn sang thì ông sẽ có trách nhiệm dỡ bỏ rào. Sau khi địa chính đến, ông H đã xây gần xong, địa chính xã đã đến lập biên bản và tiến hành đo máy, có mặt ông H tham gia đo máy, có đóng cọc ranh giới nhưng ông H nhỏ hết cọc lên. Sau khi có kết quả đo máy thì ông H không đồng ý với kết quả đo máy và đề nghị đo bằng thước dây. Nhưng khi có kết quả đo bằng thước dây thì ông H lại tiếp tục không chấp nhận kết quả đo bằng thước dây. Kết quả đo thước dây cũng giống như kết quả đo máy, đều thể hiện gia đình ông H có lấn sang đất nhà bà nên căn cứ vào kết quả đo đạc, bà đã khởi kiện đến Tòa án yêu cầu gia đình ông H dỡ tường rào đã xây, trả lại phần diện tích đất đã lấn sang.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại Tòa án, bà đã nhận được kết quả đo đạc bằng máy hiện trạng các thửa đất trong đó có phần diện tích đất đang tranh chấp của Công ty cổ phần Đ. Theo như kết quả đo đạc bằng máy của Công ty cổ phần Đ, đã xác định gia đình nhà ông H trong quá trình sử dụng đất đã lấn sang thửa đất số 338 của bà là 32,3m². Nay bà yêu cầu gia đình ông H trả lại 32,3m² đất đã lấn sang thửa đất 338 và tháo dỡ toàn bộ tường rào gia đình ông H đã xây dựng trên phần diện tích đất đã lấn.

Nguyên đơn bà Dương Thị T1 trình bày: Bà có mua của gia đình ông Dương Đình S, trú tại: Xóm V, xã T, huyện P, thửa ruộng số 335 có diện tích 510m², thuộc tờ bản đồ số 8, cạnh Trường Q1. Việc mua bán của bà với gia đình ông S được lập bằng hợp đồng mua bán, gia đình bà đã trả hết tiền cho gia đình ông S, hai bên đang làm thủ tục sang tên tại Văn phòng đăng ký đất đai và gia đình bà đã canh tác trên thửa đất số 335 từ năm 2016 cho đến nay, bà được toàn quyền quản lý, sử dụng canh tác thửa đất trên, được vợ chồng ông S ủy quyền xử lý giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến đến thửa đất theo quy định pháp luật. Năm 2020, gia đình ông H đã đổ đất tràn vào thửa đất số 335. Bà đã làm đơn báo với UBND xã T về việc gia đình ông H đổ đất và xây bờ tường lấn vào ruộng của gia đình bà, Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành đo đạc, kiểm tra hiện trạng và hòa giải nhưng không thành, do ông H cho rằng không đổ đất sử dụng lấn sang thửa đất của gia đình bà. Trong quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần đo đạc, kiểm tra hiện trạng các thửa đất đều thể hiện gia đình ông H sử dụng đất có lấn sang thửa đất nhà bà.

Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, bà đã nhận được kết quả đo đạc bằng máy của Công ty cổ phần Đ thể hiện gia đình ông H sử dụng đất lấn chiếm sang thửa đất của gia đình bà ở hai vị trí, một vị trí lấn 4m², một vị trí lấn 9m². Bà hoàn toàn nhất trí với kết quả đo đạc của Công ty Đ. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông H, bà N trả lại bà phần diện tích đã lấn chiếm và tháo bỏ tường rào xây dựng trên phần đất lấn chiếm đó.

Bị đơn ông Hoàng Đình H trình bày: Vợ chồng ông nhận chuyển nhượng 04 thửa đất 333, 334, 340, 339 liền thửa, cùng tờ bản đồ số 8, có tổng diện tích 770m² từ bà Hoàng Thị C (là bá ruột) vào năm 2003. Lúc đầu khi nhận quyển nhượng thì 04 thửa đất trên đều là đất ruộng. Đến năm 2009 thì được cấp GCN QSD đất lần đầu, đến năm 2011 vợ chồng ông chuyển đổi 60m² đất sang đất thổ cư và được cấp đổi GCN QSD đất thành 05 thửa gồm: các thửa 1624, diện tích 60m², mục đích đất ở tại nông thôn; thửa 333, diện tích 232,5m², đất bằng trồng cây hàng năm khác; thửa 334, diện tích 177,5m², đất chuyên trồng lúa nước; thửa 340, diện tích 90m², đất trồng lúa; thửa 339, diện tích 210m², loại đất trồng lúa. Gia đình ông sử dụng ổn định liên tục từ lúc nhận chuyển nhượng đến nay. Trong quá trình sử dụng không tranh chấp với ai, đến năm 2010 thì gia đình ông đổ đất và xin chuyển mục đích. Cùng năm 2010 đó thì gia đình ông xây nhà. Đến năm 2015, 2016 gia đình ông không đổ đất, vẫn sử dụng nguyên hiện trạng. Một phần giáp với thửa đất của bà T1, gia đình ông xây tường rào từ năm 2010, còn lại 3m đến năm 2019 gia đình ông mới xây. Đến cuối năm 2019, đầu năm 2020 thì gia đình ông xây tường rào giáp với thửa đất của gia đình bà Q. Thời điểm xây tường rào, gia đình ông không đổ đất. Lúc xây tường rào có bà Q, T2, T1 (03 chị em gái) đến bảo gia đình ông dừng lại chờ địa chính đến để kiểm tra thực địa, xác định ranh giới. Sau đó địa chính xã có đến nhưng không lập biên bản, có kiểm tra hiện trạng, không đo đạc. Sau khi ông xây xong tường rào một thời gian thì có hai nhân viên đo đạc và 03 chị em nhà chị Q (chị Q, chị T2, chị T1) đến đo máy. Ông không được chỉ ranh giới mốc giới. Sau khi đo máy ông không được biết kết quả đo máy. Một thời gian sau, cán bộ địa chính gồm anh C1, chị L, trưởng xóm Đ đến kiểm tra thực địa, đo đạc bằng thước dây, ông yêu cầu cắm mốc giới nhưng cán bộ địa chính không cắm. Sau đó tại xã đã tiến hòa giải nhưng không thành.

Nay bà Q và bà T1 khởi kiện đến Tòa án, cho rằng gia đình ông lấn sang đất của bà Q, bà T1 là không đúng. Trong quá trình giải quyết vụ án do ông Phạm Quang T3 giải quyết đã tiến hành đo máy, ông đã được tham gia, có được chỉ mốc giới nhưng nhân viên đo máy không phản ánh đúng việc chỉ dẫn của ông. Nay Tòa án huyện P giải quyết lại vụ án, ông vẫn giữ nguyên quan điểm, ông xác định gia đình ông sử dụng đúng phần diện tích đất của gia đình ông, không xây lấn sang đất nhà ai nên ông không nhất trí với yêu cầu của bà Q và bà T1. Ông đã nhận được kết quả đo đạc bằng máy hiện trạng các thửa đất trong đó có phần diện tích đất đang tranh chấp của Công ty cổ phần Đ. Mặc dù ông không nhất trí với kết quả đo đạc của Công ty Đ nhưng ông khẳng định ông không đề nghị đo đạc lại.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị H1, ông Dương Đình S trình bày: Gia đình ông bà có thửa đất số 335, tờ bản đồ số 8, bản đồ địa chính xã T, huyện P, diện tích 510m², loại đất 2L, đã được cấp GCN QSD đất số vào số 00842 cấp ngày 16/7/2001 tên hộ ông bà Dương Đình S. Do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 15/5/2016, vợ chồng ông bà có bán cho vợ chồng bà Dương Thị T thửa đất số 335 với giá 15.000.000 đồng. Việc mua bán thửa ruộng trên hai bên đã thực hiện xong, có viết giấy tờ mua bán, bà T cũng đã trả đủ số tiền 15.000.000 đồng cho vợ chồng ông bà, vợ chồng ông bà cũng đã giao thửa ruộng trên cho bà T canh tác từ tháng 5/2016 đến nay, hai bên không có tranh chấp gì. Ông bà xác nhận thửa đất 335 là tài sản của vợ chồng bà T, ông P, vợ chồng ông bà đã bán xong cho vợ chồng bà T, nay chỉ chờ hoàn tất thủ tục sang tên cấp GCN QSD đất cho vợ chồng bà T. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình bà T với gia đình ông H đối với diện tích đất tại thửa 335 không liên quan gì đến gia đình ông bà. Do điều kiện công việc bận nên ông Dương Đình S và bà Nguyễn Thị H1 đề nghị Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án không báo gọi ông bà, đề nghị giải quyết vắng mặt ông bà trong tất cả các buổi làm việc sau này và trong các phiên tòa xét xử vụ án.

Bà Dương Thị N trình bày: Vợ chồng bà nhận chuyển nhượng 04 thửa đất 333, 334, 340, 339 liền thửa, cùng tờ bản đồ số 8, có tổng diện tích 770m² từ bà Hoàng Thị C (là bá ruột) vào năm 2003. Lúc đầu khi nhận quyển nhượng thì 04 thửa đất trên đều là đất ruộng. Đến năm 2009 thì được cấp GCN QSD đất lần đầu, đến năm 2011 vợ chồng ông chuyển đổi 60m² đất sang đất thổ cư và được cấp đổi GCN QSD đất thành 05 thửa gồm: các thửa 1624, diện tích 60m², mục đích đất ở tại nông thôn; thửa 333, diện tích 232,5m², đất bằng trồng cây hàng năm khác; thửa 334, diện tích 177,5m², đất chuyên trồng lúa nước; thửa 340, diện tích 90m², đất trồng lúa; thửa 339, diện tích 210m², loại đất trồng lúa. Đến khoảng năm 2015, 2016 gia đình chị Q, chị T đến đặt vấn đề đổi đất vì các thửa đất của gia đình bà có chiều dài bám mặt đường giao thông, còn thửa đất của bà Q, bà T nằm ở phía trong, nhưng bà Q, bà T yêu cầu đổi 50/50, gia đình bà không nhất trí vì không thỏa thuận được tỷ lệ đổi đất. Đến cuối năm 2019 đầu năm 2020 gia đình bà xây tường rào giáp với thửa đất của gia đình bà Q, bà T, khi xây gia đình bà có báo chính quyền địa phương và bà Q, bà T. Vì bờ ruộng cong nên gia đình bà cũng muốn trao đổi với bà Q, bà T để thỏa thuận sao cho xây bờ tường được tương đối thẳng, nhưng bà Q, bà T không đồng ý nên gia đình bà xây tường rào theo đúng hiện trạng các thửa đất của gia đình bà. Sau khi xây xong tường rào, gia đình bà nhận được thông báo gia đình bà Q, bà T khởi kiện cho rằng gia đình bà xây tường rào lấn sang thửa đất của bà Q, bà T. Bà khẳng định gia đình bà sử dụng đúng diện tích, hiện trạng các thửa đất của gia đình, không lấn sang đất của ai, nay bà Q, bà T khởi kiện cho rằng gia đình bà lấn chiếm sang đất của gia đình bà Q, bà T và yêu cầu gia đình bà tháo dỡ tường rào, trả lại phần diện tích đất lấn chiếm bà không nhất trí.

Ông Dương Đình P trình bày:Thửa đất số 335, tờ bản đồ số 8, diện tích 510m² có nguồn gốc do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của gia đình ông Dương Đình S và bà Nguyễn Thị H1 vào năm 2016, vợ chồng ông đã thanh toán đủ tiền cho ông S, bà H1, gia đình ông S, bà H1 đã bàn giao thửa đất cho vợ chồng ông bà sử dụng. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông đã sử dụng ổn định liên tục từ năm 2016 đến nay, hai bên đang hoàn tất thủ tục sang tên. Trong quá trình sử dụng đất gia đình ông H đã lấn sang thửa đất số 335 của gia đình ông, quan điểm của ông thống nhất với quan điểm của vợ ông là bà Dương Thị T, ông đề nghị gia đình ông H trả lại gia đình ông phần diện tích đã lấn chiếm và tháo dỡ tường rào đã xây dựng trên phần diện tích lấn chiếm đó. Do điều kiện công việc ông ủy quyền cho vợ ông là bà Dương Thị T toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan đến thửa đất 335 của vợ chồng ông trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2024, kết quả đo đạc bằng máy và Biên bản định giá ngày 12/4/2024: Thửa đất 335 có diện tích ghi trong GCN QSD đất là 510m², diện tích trên bản đồ địa chính là 505,7m², diện tích hiện trạng thực tế đang sử dụng là 433,2m². Thửa đất 338 có diện tích ghi trong GCN QSD đất là 520m², diện tích trên bản đồ địa chính là 544,3m², diện tích hiện trạng thực tế đang sử dụng là 491,7m². Thửa đất 339 có diện tích ghi trong GCN QSD đất là 210m², diện tích trên bản đồ địa chính là 216,5m², diện tích hiện trạng thực tế đang sử dụng là 366,9m². Thửa đất 334 có diện tích ghi trong GCN QSD đất là 177,5m², diện tích hiện trạng thực tế đang sử dụng là 242,5m². Phần diện tích đất tranh chấp giữa bà Dương Thị Q và gia đình ông Hoàng Đình H có diện tích là 32,3m², phần diện tích đất có tranh chấp giữa gia đình bà Dương Thị T với gia đình ông Hoàng Đình H ở hai vị trí, một vị trí có diện tích là 4m², một vị trí có diện tích là 9m²,tổng diện tích là (4m² + 9m²) = 13 m². Hội đồng định giá xác định giá trị đất 2 lúa tại các thửa 338, 335, 334, 339, 340 có giá là 75.000 đồng/ 1m². Thời điểm Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ trên phần diện tích đất tranh chấp gia đình ông H có xây 01 đoạn tường rào bằng gạch chỉ, cùng với một đoạn tường rào B40 có giá trị còn lại là 18.754.062 đồng. Tổng giá trị tài sản tranh chấp trong vụ án là: (45,3m² x 75.000 đồng) + 18.754.062 đồng = 22.151.562 đồng.

Tại biên bản xác minh ngày 09/5/2024 UBND xã T cho biết: Về việc có sự chênh lệch về diện tích giữa diện tích trong GCN QSD đất, diện tích trên bản đồ địa chính và diện tích hiện trạng sử dụng đất tại các thửa 338, 335, 334, 339, 340, tờ bản đồ địa chính số 8 xã T là do việc tính toán lại diện tích tự động và công nghệ đo đạc (trước đây tính toán diện tích theo thủ công, hiện nay tính toán diện tích bằng máy), do độ chính xác giữa các lần đo đạc khác nhau. Còn về ranh giới giữa các thửa đất hiện nay không thay đổi so với ranh giới các thửa đất tại thời điểm cấp GCN QSD đất các thửa đất trên.

Vụ án trên đã được các cấp Tòa án giải quyết cụ thể:

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 17/2023/DSST ngày 22/9/2023 của Tòa án huyện Phú Bình. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị T và chị Dương Thị Q về việc khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất với anh Hoàng Đình H và chị Dương Thị N.
  2. Buộc gia đình anh H, chị N dỡ toàn bộ đoạn bờ tường xây bằng gạch xi măng có chiều dài 40 mét, cao 1,3 mét và toàn bộ hàng rào sắt đan lưới B40 dài 40 mét; cao 0,5 mét; di chuyển toàn bộ phần đất đã đổ lấn vào thửa đất số 335, tờ bản đồ số 8 của bà Dương Thị T tại 2 vị trí có tổng diện tích là 13m²; lấn vào thửa đất số thửa đất số 338, tờ bản đồ số 8 của bà Dương Thị Q có diện tích là 32,3m². Để trả lại các phần diện tích đất trên cho bà Q, bà T quản lý sử dụng.
  3. Chi phí tố tụng: Buộc ông H, bà N phải chịu toàn bộ lệ phí chi phí tố tụng theo quy định.

Ngoài ra còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo của các bên theo quy định pháp luật.

Ông Hoàng Đình H không nhất trí với bản án sơ thẩm đã làm đơn kháng cáo phúc thẩm.

Tại Bản án Dân sự phúc thẩm số 75/2023/DSPT ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Đình H. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DSST ngày 22/9/2023 của TAND huyện P. Giao hồ sơ cho Tòa án huyện P giải quyết lại theo thẩm quyền.

Lý do hủy án: Do việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa tiến hành đo thực tế hiện trạng các thửa đất cấp cho đương sự là các thửa 335, 338, 334, 339, 340 để xác định vị trí, kích thước các thửa đất. Chưa thu thập đầy đủ hồ sơ cấp GCN QSD đất để xác định nguồn gốc hình thành các thửa đất.

Với nội dung nêu trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P đã xét xử và quyết định: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 227, 228, 165, 166, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 158, 166, 357, 468, 221 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, 100, 166, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Q và bà Dương Thị T về việc khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Hoàng Đình H và bà Dương Thị N.
  2. Buộc gia đình ông Hoàng Đình H và bà Dương Thị N trả lại cho bà Dương Thị Q quyền sử dụng 32,3m² đất tại thửa đất số 338, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng đất 2 Lúa, thuộc tờ bản đồ địa chính xã T, phần diện tích đất theo sơ đồ như sau: 3,4,5,6,7,f,q,p,n,m,3 (có sơ đồ kèm theo) và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất lấn chiếm trên.
  3. Buộc gia đình ông Hoàng Đình H và bà Dương Thị N trả lại cho bà Dương Thị T, ông Dương Đình P quyền sử dụng 13m² đất tại thửa đất số 335, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng đất 2 Lúa, thuộc tờ bản đồ địa chính xã T, phần diện tích đất theo sơ đồ như sau: 7,8,e,f,7 (diện tích 4m²) và phần diện tích đất theo sơ đồ 13,14,c,d,đ,13 (diện tích 9m²) (có sơ đồ kèm theo) và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất lấn chiếm trên.
  4. Về lệ phí, chi phí tố tụng: Lệ phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc bằng máy, định giá tài sản hết 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Do yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị T, bà Dương Thị Q được Tòa án chấp nhận nên toàn bộ lệ phí, chi phí tố tụng ông H, bà N phải chịu theo quy định. Bà Q, bà T đã nộp tạm ứng lệ phí, chi phí tố tụng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Vì vậy, cần buộc gia đình ông H, bà N phải trả lại cho bà T, bà Q số tiền là 10.000.000đ tiền lệ phí, chi phí tố tụng mà bà Q, bà T đã nộp tạm ứng và đã được chi phí tố tụng hết trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Trả cho bà T 5.000.000đ, trả cho bà Q là 5.000.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà T, bà Q có đơn yêu cầu thi hành, nếu ông H, bà N không tự nguyện thi hành trả lại khoản tiền chi phí tố tụng trên cho bà T, bà Q, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo Điều 357, Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/6/2024, bị đơn ông Hoàng Đình H kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện tranh chấp đất đai của bà Dương Thị Q và bà Dương Thị T và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Việc bà Dương Thị Q và bà Dương Thị T khởi kiện tranh chấp đất đai với ông Hoàng Đình H và bà Dương Thị N là không có căn cứ bởi vì diện tích đất thực tế mà bà Q và bà T4 đang quản lý sử dụng nhiều hơn so với bản đồ địa chính, ranh giới giữa thửa đất của bà Q, bà T với thửa đất của ông H, bà N được tảo bởi một mương nước nên không có việc lấn chiếm như Tòa án cấp sơ thẩm xác định, vì vậy, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát sát nhân dân tỉnh T về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Đình H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng họ đã được triệu tập hợp lệ và có bản trình bày ý kiến trong hồ sơ, có người đại diện theo uỷ quyền, có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

[2]. Về nguồn gốc các thửa đất:

[2.1]. Thửa đất 338, diện tích 520m² và thửa đất 335, diện tích 510m², cùng tờ bản đồ số 8: Ông Dương Đình S được UBND huyện P cấp GCN QSD đất số T 696166 ngày 16/7/2001.

Năm 2008 ông S tặng cho bà Dương Thị T5 (là mẹ đẻ bà Q) toàn bộ diện tích thửa đất 338 nên trên. Bà T5 đã được UBND huyện P cấp GCN QSD đất số AĐ 034583 ngày 20/5/2008. Năm 2011 bà Thục T6 cho bà Dương Thị Q thửa đất 338, tờ bản đồ số 8, bà Q sử dụng trồng lúa đến năm 2019 làm thủ tục xin cấp GCN QSD đất và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCN QSD đất số CR 036221 ngày 19/4/2014 mang tên Dương Thị Quy .

Năm 2016 ông Dương Đình S, bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 335 cho bà Dương Thị T với giá 15.000.000 đồng, hai bên có lập giấy bán đất viết tay, bà T đã nhận đất canh tác trồng lúa từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Tuy GCN QSD đất đối với thửa đất 335 vẫn mang tên ông S, bà H1 nhưng ông S, bà H1 đều khẳng định đã chuyển nhượng và bàn giao thửa đất số 335 cho vợ chồng bà T quản lý sử dụng từ năm 2016, hai bên không có tranh chấp gì, hiện đang hoàn tất các thủ tục để sang tên cho bà T.

[2.2]. Ủy ban nhân dân huyện P cấp GCN QSD đất ngày 16/7/2001 đối với thửa đất 339, tờ bản đồ số 8, diện tích 210m² và GCN QSD ngày 02/12/2008 đối với các thửa đất 333, diện tích 270m²; thửa 334 diện tích 200m²; thửa 340 diện tích 90m², cùng tờ bản đồ số 8 mang tên bà Hoàng Thị C.

Ngày 31/12/2008 bà C đã chuyển nhượng toàn bộ 4 thửa đất 333, 334, 339, 340 cùng tờ bản đồ số 8 cho ông H, bà N. Ông H và bà N đã được UBND huyện P cấp GCN QSD đất số AI 802310 ngày 22/5/2009. Năm 2011 vợ chồng ông H chuyển đổi 60m² đất sang đất thổ cư và được cấp đổi GCN QSD đất thành 05 thửa gồm: các thửa 1624, diện tích 60m², mục đích đất ở tại nông thôn; Thửa 333, diện tích 232,5m², đất bằng trồng cây hàng năm khác; Thửa 334, diện tích 177,5m², đất chuyên trồng lúa nước; Thửa 340, diện tích 90m², đất trồng lúa; Thửa 339, diện tích 210m², loại đất trồng lúa.

[3]. Bà Dương Thị Q sử dụng ổn định thửa đất 338 từ khi được bà Thục tặng cho, đến năm 2015, 2016 gia đình ông H đổ đất tràn sang thửa 338, bà Q đã trao đổi với ông H, yêu cầu ông H múc hết đất tràn sang ruộng nhưng vợ chồng ông H không thực hiện. Đến năm 2020, gia đình ông H xây bờ rào kiên cố lấn sang thửa đất của bà Q nên xảy ra tranh chấp.

Bà Dương Thị T sử dụng ổn định thửa đất 335 từ khi nhận chuyển nhượng của ông S, bà H1, đến năm 2020, gia đình ông H xây bờ rào kiên cố lấn sang thửa đất của bà T nên xảy ra tranh chấp.

[4]. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc bằng máy của Toà án cấp sơ thẩm đã xác định gia đình ông H, bà N hiện trạng sử dụng các thửa đất 333, 334, 340 và 339 đều nhiều hơn diện tích được cấp trong GCN QSD đất, có phần lấn sang thửa 338 của bà Q và thửa 335 của bà T. Xác định phần diện tích đất tranh chấp giữa bà Dương Thị Q và gia đình ông Hoàng Đình H có diện tích là 32,3m², phần diện tích đất tranh chấp giữa gia đình bà Dương Thị T với gia đình ông Hoàng Đình H ở hai vị trí, một vị trí có diện tích là 4m², một vị trí có diện tích là 9 m², tổng diện tích là (4m² + 9m²) = 13m².

Tại biên bản xác minh ngày 09/5/2024, UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xác định: Về việc có sự chênh lệch về diện tích giữa diện tích trong GCN QSD đất, diện tích trên bản đồ địa chính và diện tích hiện trạng sử dụng đất tại các thửa 338, 335, 334, 339, 340, tờ bản đồ địa chính số 8 xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là do việc tính toán lại diện tích tự động và công nghệ đo đạc (Trước đây tính toán diện tích theo thủ công, hiện nay tính toán diện tích bằng máy), do độ chính xác giữa các lần đo đạc khác nhau. Còn về ranh giới giữa các thửa đất hiện nay không thay đổi so với ranh giới các thửa đất tại thời điểm cấp GCN QSD đất các thửa đất trên (Bút lục 291).

[5]. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị đơn có đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ, tiến hành đo đạc để xác định lại diện tích đối với thửa đất 335 và thửa 338. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đã thực hiện đúng thành phần và đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn vị đo đạc đã đo vẽ diện tích của các thửa đất có tranh chấp bằng máy toàn đạc điện tử và đã đối chiếu với bản đồ địa chính, do đó không có căn cứ chấp nhận đề nghị của bị đơn.

[6]. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu do các bên cung cấp có trong hồ sơ và căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, ý kiến của cơ quan quản lý đất đai, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông H, bà N trả lại cho bà Q quyền sử dụng 32,3m² đất tại thửa đất số 338, tờ bản đồ số 8 và buộc ông H, bà N trả lại cho bà T, ông P quyền sử dụng 13m² đất tại thửa đất số 335, tờ bản đồ số 8 là có căn cứ. Ông H kháng cáo tuy nhiên không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ gì mới tại cấp phúc thẩm. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Đình H.

[7]. Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được chuyển từ dự phí đã nộp sang.

[8]. Quan điểm tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng diện tích đất thực tế mà bà Q và bà T4 đang quản lý sử dụng nhiều hơn so với bản đồ địa chính, ranh giới giữa thửa đất của bà Q, bà T với thửa đất của ông H, bà N được tảo bởi một mương nước nên không có việc lấn chiếm như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[9]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Các nội dung khác trong bản án sơ thẩm không bị kháng cáo và kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Đình H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS- ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Hoàng Đình H phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được chuyển từ biên lai thu tạm ứng án phí số 0003856 ngày 07/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên sang. Xác nhận ông H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS- ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Huy Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/DS-PT ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 121/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2016 ông Dương Đình S, bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 335 cho bà Dương Thị T với giá 15.000.000 đồng, hai bên có lập giấy bán đất viết tay, bà T đã nhận đất canh tác trồng lúa từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Tuy GCN QSD đất đối với thửa đất 335 vẫn mang tên ông S, bà H1 nhưng ông S, bà H1 đều khẳng định đã chuyển nhượng và bàn giao thửa đất số 335 cho vợ chồng bà T quản lý sử dụng từ năm 2016, hai bên không có tranh chấp gì, hiện đang hoàn tất các thủ tục để sang tên cho bà T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger