Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 121/2024/DS-PT

Ngày: 17-5-2024

Tranh chấp hợp đồng vay tài

sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài

sản do người chết để lại.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Kha

Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn

Bà Nguyễn Thị Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Trương Văn Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/20234/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 93/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Trần Thanh T, sinh năm 1983. Có mặt

Địa chỉ: Tổ 1, ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

*Bị đơn:

1. Anh Võ Văn L, sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ: Tổ C, ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Anh Võ Văn L1, sinh năm 2003. Có mặt

Địa chỉ: Tổ C, ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên Tòa, nguyên đơn chị Trần Thanh T trình bày:

Vào ngày 14 tháng 02 năm 2022 âm lịch, bà Nguyễn Thị N và cháu là anh Võ Văn L1 có vay của chị số tiền là 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng). Hai bên có làm biên nhận với nhau và thỏa thuận lãi suất là 12.000 đồng/triệu/tháng, thời hạn vay là 12 tháng sẽ hoàn trả gốc, bà N và anh L1 có đưa cho chị hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI678421 cấp ngày 10/7/2017, CI678422 cấp ngày 04/8/2017 do bà N đứng tên để làm tin.

Từ ngày vay đến nay, bà N và anh L1 không đóng lãi mặc dù chị có nhắc nhở nhiều lần. Nay bà N đã chết và đã đến thời hạn thanh toán nợ nhưng anh L1 vẫn chưa thanh toán số nợ trên cho chị.

Chị T có làm đơn yêu chính quyền địa phương giải quyết, tại biên bản hòa giải ngày 15 tháng 10 năm 2022, anh L1 thừa nhận nợ và hứa đóng lãi cho chị T mỗi tháng 4.000.000 đồng đến khi chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng anh L1 không thực hiện đúng theo biên bản hòa giải.

Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Võ Văn L1 và người thừa kế tài sản của bà N liên đới trả cho chị số tiền vay gốc là 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày vay cho đến khi vụ kiện được giải quyết xong. Chị T tự nguyện giao trả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI678421, CI678422 của bà N cho người thừa kế của bà N.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Võ Văn L1 trình bày:

Anh L1 xác định vào ngày 14/02/2022 âm lịch anh và bà N1 là bà Nguyễn Thị N có vay của chị Trần Thanh T số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng). Anh và bà N1 có làm biên nhận cho chị T, thời hạn vay và lãi suất thỏa thuận đúng như chị T trình bày. Khi vay bà N1 anh có giao cho chị T hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà N1 đứng tên để làm tin.

Anh L1 thừa nhận anh và bà N1 (Là bà Nguyễn Thị N) còn nợ chị T số tiền vay gốc là 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng). Tuy nhiên hiện nay bà N1 anh đã chết, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh không có khả năng thanh toán nợ cho chị T.

Nay chị T khởi kiện yêu cầu anh phải trả số tiền vay gốc là 185.000.000 đồng (một trăm tám mươi lăm triệu đồng) thì anh cũng đồng ý trả nhưng xin được trả dần và xin được miễn trả lãi vì hiện nay anh không có khả năng.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn L trình bày:

Do ông đi làm ăn xa không có ở nhà nên không biết con ông là Võ Văn L1 đến vay tiền của chị Trần Thanh T vào khi nào. Khoảng tháng 9 năm 2021 ông mới biết con ông có thiếu của chị T số tiền là 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng) nhưng không có tiền trả. Lúc này gia đình ông có cố đất và trả cho chị T số tiền là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), còn thiếu 40.000.000 đồng. Ông có xuống gặp chị T về số tiền còn thiếu vì ông biết con ông (tức L1) còn cầm cho chị T 07 chiếc xe HONDA, ông có yêu cầu chị T thanh lý 07 chiếc xe này để cấn trừ, còn thiếu bao nhiêu ông sẽ trả để dứt nợ và yêu cầu từ nay trở đi gia đình ông không có trách nhiệm gì về nợ nần với chị T.

Một thời gian sau không thấy chị T trả lời hay tới tìm, ông nghĩ là đã hoàn tất nợ. Ông tiếp tục đi làm ăn xa, đến khi mẹ ông là bà Nguyễn Thị N bệnh nặng, ông trở về nhà mới biết được chị T vẫn tiếp tục đưa tiền nhiều lần cho L1 vay mượn với tổng số tiền là 185.000.000 đồng (một trăm tám mươi lăm triệu đồng), đồng thời buộc L1 cùng mẹ ông là bà Nguyễn Thị N ký xác nhận nợ và thế chấp hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mẹ ông cho chị T, sau đó vài ngày thì mẹ ông qua đời.

Nay ông L yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc chị Trần Thanh T giao trả lại cho ông hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI678421 cấp ngày 10/7/2017, CI678422 cấp ngày 04/8/2017 đứng tên Nguyễn Thị N do bà N đã chết và ông là người thừa kế của bà N. Đối với số tiền vay là 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng) ông yêu cầu cho con ông là Võ Văn L1 được trả dần theo biên bản hòa giải tại ấp do hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn con ông không có khả năng trả một lần và xin được miễn trả lãi.

*Tại bản án dân sự sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh T đối với anh Võ Văn L1, ông Võ Văn L.

Buộc anh Võ Văn L1 giao trả cho chị Trần Thanh T số tiền là 217.706.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn đồng).

Buộc ông Võ Văn L chịu trách nhiệm thực hiện phần nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị N để lại là cùng anh Võ Văn L1 liên đới trả số tiền 217.706.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn đồng) cho chị Trần Thanh T trong phạm vi di sản của bà N để lại.

Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án, anh L1 và ông L chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì anh L1 và ông L phải chịu lãi chậm trả tương ứng với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.Về án phí:

Buộc anh Võ Văn L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 5.442.650 đồng (Năm triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi đồng). Do bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định nên người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà N là ông Võ Văn L không phải thực hiện nghĩa vụ nộp án phí của bà N.

Hoàn trả lại cho chị Trần Thanh T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002003 ngày 11/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 22/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang có quyết định kháng nghị số 19/QĐ-VKS-DS với nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang theo hướng xác định lại tên đương sự cho đúng, bổ sung thêm quan hệ tranh chấp, căn cứ áp dụng xem xét lại mức tính lãi suất, nghĩa vụ chịu án phí, ghi nhận ý kiến tự nguyện của nguyên đơn, xem xét lại phần quyết định cho phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn và bị đơn không có kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng về nội dung, quyền kháng nghị, thủ tục kháng nghị và thời hạn kháng nghị đã đúng quy định tại các Điều 278, 279, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng nghị của bản án sơ thẩm:

Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang theo hướng xác định lại tên đương sự cho đúng, bổ sung thêm quan hệ tranh chấp, căn cứ áp dụng xem xét lại mức tính lãi suất, nghĩa vụ chịu án phí, ghi nhận ý kiến tự nguyện của nguyên đơn, xem xét lại phần quyết định cho phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy:

Vào ngày 14/02/2022 âm lịch, bà Nguyễn Thị N và cháu là anh Võ Văn L1 có vay của chị Trần Thanh T số tiền 185.000.000đ, hai bên có làm biên nhận với nhau và thỏa thuận lãi suất là 12.000đ/triệu/tháng, thời hạn vay 12 tháng sẽ hoàn trả gốc, bà N và anh L1 có đưa cho chị hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C1678421 cấp ngày 10/7/2017, C1678422 cấp ngày 04/8/2017 do bà N đứng tên để làm tin.

Từ thời điểm vay phía bà N và anh L1 không đóng lãi, mặc dù chị có nhắc nhở nhiều lần. Nay bà N đã chết và đã đến thời hạn thanh toán nợ nhưng anh L1 vẫn chưa thanh toán số nợ trên cho chị.

Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Võ Văn L1 và người thừa kế tài sản của bà N liên đới trả cho chị số tiền vay gốc là 185.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày vay cho đến khi vụ kiện được giải quyết xong. Chị T tự nguyện giao trả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C1678421, C1678422 của bà N cho người thừa kế của bà N.

Bị đơn anh Võ Văn L1 thừa nhận, anh và bà N1 (Bà Nguyễn Thị N) còn nợ số tiền vay gốc là 185.000.000đ, hiện bà N1 đã chết, hoàn cảnh khó khăn nên anh không có khả năng thanh toán nợ cho chị T, xin trả dần và xin miễn trả lãi.

Bị đơn ông Võ Văn L xác định việc con ông là Võ Văn L1 cùng mẹ ông là bà Nguyễn Thị N vay số tiền 185.000.000 đồng của chị T thì ông không hay biết. Nay ông yêu cầu chị T giao trả lại cho ông hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C1678421 cấp ngày 10/7/2017, CI678422 cấp ngày 04/8/2017 đứng tên Nguyễn Thị N do bà N đã chết và ông là người thừa kế của bà N. Đối với số tiền vay là 185.000.000 đồng ông yêu cầu cho con ông là Võ Văn L1 được trả dần theo biên bản hòa giải tại ấp do hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn con ông không có khả năng trả một lần và xin được miễn trả lãi.

[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang:

Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, còn nhiều thiếu sót, vi phạm tố tụng và nội dung cụ thể như sau:

Nguyên đơn Chị Trần Thanh T khởi kiện yêu cầu anh Võ Văn L1 và người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị N là ông Võ Văn L liên đới chịu trách nhiệm giao trả cho chị số tiền vay gốc và lãi theo quy định pháp luật, nên quan hệ tranh chấp được xác định tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nhưng bản án chỉ xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng vay là không đầy đủ, thiếu quan hệ tranh chấp. Bản án còn xác định sai tên bị đơn, phần mở đầu của bản án xác định bị đơn anh Võ Văn L2, phần nhận định và quyết định xác định là Võ Văn L1. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào căn cước công dân của ông Võ Văn L1 sửa lại tên đúng là ông Võ Văn L1.

Đơn khởi kiện của bà T yêu cầu bà N và anh L1 là bị đơn trong vụ kiện tranh chấp là chưa đúng, bởi vì bà N đã chết vào ngày 10/8/2022, đến ngày 9/8/2023 bà T có đơn khởi kiện bà N là không chính xác. Khi đó bà N đã chết, ông Võ Văn L là người kế thừa quyền và nghĩa vụ duy nhất của bà Nguyễn Thị N nên ông L phải xác định là bị đơn trong vụ kiện mới phù hợp.

Bản án sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tính mức lãi suất 10%/năm là không đúng, vì theo nội dung vụ án thể hiện hợp đồng vay giữa các bên thỏa thuận là có lãi, các bên cũng thống nhất xác định rõ lãi suất thỏa thuận 12.000 đồng/triệu/tháng (1,2%/tháng, lãi sinh 14,49%/năm), mức lãi suất thỏa thuận này không vượt quá 20%/năm so với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, họ cũng không tranh chấp về lãi suất, nên khi bản án nhận định áp dụng mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là chưa phù hợp, làm ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nên cần tính lại theo khoản 1 Điều 468 về lãi suất hai bên đã thỏa thuận 14,49%/năm là phù hợp quy định. Cụ thể tiền lãi được tính như sau:

185.000.000 đồng x 1,2%/tháng x 21 tháng 09 ngày = 47.286.000 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi là 185.000.000 đồng + 47.286.000 đồng = 232.286.000 đồng.

Ngoài ra, theo ý kiến của nguyên đơn trong nội dung, phần nhận định nguyên đơn tự nguyện giao trả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C1678421 cấp ngày 10/7/2017, C1678422 cấp ngày 04/8/2017 do bà Nguyễn Thị N đứng tên cho người thừa kế của bà N là ông L, nhưng phần quyết định lại không ghi nhận ý kiến trên của nguyên đơn là thiếu sót, bản án sẽ không thi hành án được khi phát sinh hiệu lực. Nên thiếu sót này cần đưa vào phần quyết định của bản án cho đúng quy định.

Việc bản án nhận định và quyết định bà N là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định, nên người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà N là ông L không phải thực hiện nghĩa vụ nộp án phí của bà N là không đúng theo quy định. Do bà N không phải là bị đơn trong vụ kiện như đã nhận định ở trên. Nên ông L phải chịu án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bên cạnh đó, phần quyết định vừa buộc anh Võ Văn L1 giao trả cho chị Trần Thanh T số tiền là 217.706.000 đồng, lại tiếp tục tuyên buộc ông Võ Văn L chịu trách nhiệm thực hiện phần nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị N để lại là cùng anh Võ Văn L1 liên đới trả số tiền 217.706.000 đồng, cho chị Trần Thanh T trong phạm vi di sản của bà N để lại. Như vậy, việc tuyên buộc như phần quyết định của bản án là chưa đúng pháp luật, gây khó khăn khi thi hành án. Vì vậy cần tuyên lại là buộc anh L1 phải chịu ½ số tiền và ông L chịu ½ số tiền để trả cho chị Trần Thanh T theo đơn khởi kiện là 185.000.000đ tại giấy biên nhận ngày 14/2/2022 và tiền lãi theo quy định pháp luật. Như đã phân tích ở trên thì tổng số tiền gốc và lãi là 232.286.000 đồng. Ông Võ Văn L và Võ Văn L1 mỗi người phải trả cho chị T là 232.286.000 đồng : 2 = 116.143.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Từ những phân tích, nhận định trên xét thấy Bản án sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, còn nhiều thiếu sót, vi phạm tố tụng và nội dung giải quyết vụ án nên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gồng Riềng kháng nghị Bản án sơ thẩm nêu trên, là có cơ sở chấp nhận.

[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận nội dung kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[6] Về án phí:

[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T được chấp nhận nên anh L1 và ông L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền: 116.143.000 đồng x 5% = 5.807.150 đồng (Năm triệu tám trăm lẻ bảy ngàn một trăm năm mươi đồng).

Hoàn trả lại cho chị T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002003 ngày 11/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các bên không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 310/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang theo hướng xác định lại tên đương sự cho đúng, xác định lại tư cách tham gia tố tụng của đương sự, bổ sung thêm quan hệ tranh chấp, căn cứ áp dụng xem xét lại mức tính lãi suất, nghĩa vụ chịu án phí, ghi nhận ý kiến tự nguyện của nguyên đơn .

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 269 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 122, Điều 123, khoản 1 Điều 124, Điều 288, Điều 335, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 166, 167 của Luật Đất đai;

Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh T đối với anh Võ Văn L1, ông Võ Văn L.

2.1 Buộc ông Võ Văn L phải trả cho bà T số tiền là 116.143.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng) trong phạm vi di sản của bà N.

2.2 Buộc ông Võ Văn L1 phải trả cho bà T số tiền là 116.143.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thanh T giao trả lại cho ông Võ Văn L hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI678421 cấp ngày 10/7/2017, CI678422 cấp ngày 04/8/2017 đứng tên Nguyễn Thị N do bà N đã chết và ông L là người thừa kế của bà N.

4.Về án phí:

4.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc anh Võ Văn L1 và ông Võ Văn L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 5.807.150 đồng (Năm triệu tám trăm lẻ bảy nghìn một trăm năm mươi đồng).

Hoàn trả lại cho chị Trần Thanh T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002003 ngày 11/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

4.2 Án phí dân sự phúc thẩm:

Các bên không phải chịu

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Giồng Riềng;
  • - THA dân sự huyện Giồng Riềng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Kha

Thẩm phán

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 121/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T-Võ Văn L-T/c hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger