Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc



Bản án số: 121/2023/DS-ST

Ngày: 21 - 8 - 2023

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Công Danh;
  2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 744/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 1282/2023/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần T2.

Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T3, số E, phố L, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội;

Địa chỉ liên hệ: B P, phường C, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  1. Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1983 - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Xử lý nợ M - Trung tâm Giám sát Tín dụng và Xử lý nợ khách hàng Doanh nghiệp - Ngân hàng Thương mại cổ phần T2.
  2. Anh Đỗ Hoài D, sinh năm: 1981 - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Xử lý nợ M - Trung tâm Giám sát Tín dụng và Xử lý nợ khách hàng Doanh nghiệp - Ngân hàng Thương mại cổ phần T2.

Cùng địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà D - T3, B P, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn An T1, sinh năm: 1994;

Địa chỉ: 3, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(anh T, anh D và anh T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 05 tháng 7 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 – Chi nhánh Thành phố H (T3) ký với anh Nguyễn An T1 các Hợp đồng tín dụng như sau.

- Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01, theo đó, T3 đồng ý cấp cho anh Nguyễn An T1 với số tiền là: 1.225.000.000 đồng; mục đích: Vay thanh toán tiền mua xe; thời hạn vay: 72 tháng; lãi suất theo quy định tại thời điểm giải ngân của T3 như sau:

  • + Lãi suất áp dụng kể từ ngày nhận nợ cho đến ngày 05 tháng 7 năm 2022 là 8,5%/năm.
  • + Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 05 tháng 7 năm 2027: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của T3 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm.
  • + Trả nợ gốc và lãi hàng tháng 01/lần vào ngày 26.

- Hợp đồng cho vay số 1001/2021/HDTD/TTBMN1/02 theo đó, T3 đồng ý cấp cho anh Nguyễn An T1 với số tiền là: 10.000.000 đồng. Mục đích: Vay thanh toán phí bảo hiểm nhân thọ S. Thời hạn vay: 12 tháng. Lãi suất theo quy định tại thời điểm giải ngân của T3 như sau:

  • + Lãi suất áp dụng kể từ ngày nhận nợ cho đến 05 tháng 10 năm 2021 là 12,7%/năm.
  • + Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 05 tháng 7 năm 2022: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của T3 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm.
  • + Trả nợ gốc và lãi hàng tháng 01/lần vào ngày 26.

Ngày 17 tháng 7 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 – Chi nhánh Thành phố H (T3) ký Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T3 Kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ với cho anh Nguyễn An T1 với số tiền 60.000.000 đồng. Lãi suất theo quy định tại thời điểm phát hành thẻ của T3.

Để đảm bảo cho khoản vay, anh Nguyễn An T1 đã tự nguyện thế chấp cho T3: Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes – Benz GLC300; Màu trắng; Biển số 60A – 988.92, theo giấy chứng nhận đăng ký số 60 017686 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021 theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01 ngày 05 tháng 7 năm 2021.

Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 26 tháng 7 năm 2021 đến ngày 27 tháng 9 năm 2021, anh Nguyễn An T1 đã trả cho T3 được số tiền là: 50.662.112 đồng (Trong đó: nợ gốc đã trả là: 35.778.750 đồng, nợ lãi đã trả là: 14.883.362 đồng).

Anh Nguyễn An T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Anh Nguyễn An T1 đã không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi đúng cam kết. Do đó, T3 đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của anh Nguyễn An T1 sang nợ quá hạn.

Trong quá trình giải quyết T3 đã nhiều lần đôn đốc, trực tiếp xuống làm việc và tạo điều kiện nhiều lần để anh Nguyễn An T1 trả nợ nhưng anh Nguyễn An T1 vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và theo các quy định của pháp luật.

Tạm tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2023, anh Nguyễn An T1 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 tổng số tiền là: 1.662.290.830 đồng (Bằng chữ: Một tỷ sáu trăm sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi nghìn tám trăm ba mươi đồng). Trong đó:

Dư nợ khoản vay mua xe ôtô + Thanh toán phí bảo hiểm là:

Nợ gốc: 1.199.221.250 đồng

Nợ lãi Trong hạn: 25.690.770 đồng

Nợ lãi quá hạn: 266.134.736 đồng

Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng là: 171.244.074 đồng.

Để bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng, bằng đơn này Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 khởi kiện anh Nguyễn An T1 yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc anh Nguyễn An T1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 tổng số tiền (tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2023) là: 1.662.290.830 đồng (Bằng chữ: Một tỷ sáu trăm sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi nghìn tám trăm ba mươi đồng), trong đó:

    Dư nợ khoản vay mua xe ôtô và thanh toán phí bảo hiểm là: Nợ gốc 1.199.221.250 đồng; nợ lãi trong hạn: 25.690.770 đồng và nợ lãi quá hạn: 266.134.736 đồng

    Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng là: 171.244.074 đồng.

  2. Buộc anh T1 tiếp tục trả tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2023 (theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01 ngày 05 tháng 7 năm 2021; Hợp đồng cho vay số 1001/2021/HDTD/TTBMN1/02 ngày 05 tháng 7 năm 2021 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T3 Kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 17 tháng 7 năm 2021) cho đến khi anh Nguyễn An T1 thanh toán hết khoản nợ nêu trên.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn An T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 số tiền 5.000.000 đồng chi phí thực hiện thủ tục cấp, tống đạt bằng hình thức thông báo trên cổng phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến quá trình giải quyết vụ án.
  4. Trong trường hợp, anh Nguyễn An T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên và phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay là:
    • - Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes – Benz GLC300; Màu trắng; Biển số 60A – 988.92; theo Giấy chứng nhận đăng ký số 60 017686 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn An T1, là tài sản bảo đảm cho khoản vay như đã trình bày ở trên để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2.
  5. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn An T1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Nguyễn An T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong

Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc triệu tập để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa đối với bị đơn anh Nguyễn An T1 nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đối chiếu các quy định của pháp luật; có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng, bị đơn anh Nguyễn An T1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn An T1, địa chỉ cư trú: 322/8, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trả tiền gốc và lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, các điều 35, 39, 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 14, 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 được được xác định là nguyên đơn, anh Nguyễn An T1 được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Phạm Văn T và anh Đỗ Hoài D đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn An T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc và lãi:

Theo lời khai và các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thể hiện:

Ngày 05 tháng 7 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 có ký với anh Nguyễn An T1 Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01, theo đó, Ngân hàng đồng ý cho anh T1 vay số tiền 1.225.000.000 đồng; Mục đích: Vay thanh toán tiền mua xe; Thời hạn vay: 72 tháng; Lãi suất theo quy định tại thời điểm giải ngân của Ngân hàng như sau: Lãi suất áp dụng kể từ ngày nhận nợ cho đến ngày 05 tháng 7 năm 2022 là 8,5%/năm; Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 05 tháng 7 năm 2027: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm; Trả nợ gốc và lãi hàng tháng 01/lần vào ngày 26.

Cùng ngày 05 tháng 7 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 và anh Nguyễn An T1 tiếp tục ký kết Hợp đồng cho vay số 1001/2021/HDTD/TTBMN1/02, theo đó, Ngân hàng cho anh T1 vay số tiền là: 10.000.000 đồng; Mục đích: Vay thanh toán phí bảo hiểm nhân thọ S; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất theo quy định tại thời điểm giải ngân của Ngân hàng như sau: Lãi suất áp dụng kể từ ngày nhận nợ cho đến 05 tháng 10 năm 2021 là 12,7%/năm; Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 05 tháng 7 năm 2022: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm; Trả nợ gốc và lãi hàng tháng 01/lần vào ngày 26.

Ngày 17 tháng 7 năm 2021, căn cứ vào Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T3 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ của anh Nguyễn An T1, Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 đã cấp thẻ tín dụng cho anh T1 với hạn mức là 60.000.000 đồng; Lãi suất theo quy định tại thời điểm phát hành thẻ của Ngân hàng.

Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên, từ ngày 26 tháng 7 năm 2021 đến ngày 27 tháng 9 năm 2021, anh T1 đã trả cho Ngân hàng được số tiền 50.662.112 đồng (trong đó tiền gốc là 35.778.750 đồng, tiền lãi 14.883.362 đồng). Tuy nhiên, sau đó thì anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo các hợp đồng đã thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của anh T1 sang nợ quá hạn.

Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 khởi kiện bị đơn anh Nguyễn An T1 trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2023 là 1.662.290.830 đồng (trong đó dư nợ khoản vay mua xe ô tô và thanh toán phí bảo hiểm là: Nợ gốc 1.199.221.250 đồng, nợ lãi trong hạn 25.690.770 đồng, nợ lãi quá hạn 266.134.736 đồng; dư nợ khoản vay thẻ tín dụng 171.244.074 đồng); lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2023 (theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01 ngày 05 tháng 7 năm 2021, Hợp đồng cho vay số 1001/2021/HDTD/TTBMN1/02 ngày 05 tháng 7 năm 2021 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T3 Kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 17 tháng 7 năm 2021) cho đến khi anh T1 thanh toán hết nợ.

Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để bị đơn anh T1 nhận được thông tin tại các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, nhưng anh T1 không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa.

Xét thấy, việc các bên ký kết Hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ là tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên phù hợp với các quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thể hiện bị đơn anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với các hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng theo như thỏa thuận của các bên. Vì vậy, việc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 khởi kiện yêu cầu bị đơn anh T1 trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2023 là 1.662.290.830 đồng (trong đó dư nợ khoản vay mua xe ô tô và thanh toán phí bảo hiểm là: Nợ gốc 1.199.221.250 đồng, nợ lãi trong hạn 25.690.770 đồng, nợ lãi quá hạn 266.134.736 đồng; dư nợ khoản vay thẻ tín dụng 171.244.074 đồng); lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo thỏa thuận từ ngày 22 tháng 8 năm 2023 đến khi thanh toán hết nợ là phù hợp với các Hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ các bên đã ký kết. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Để đảm bảo cho khoản vay, anh T1 đã tự nguyện thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 01 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes – Benz GLC300; Màu trắng; Biển số 60A – 988.92; Giấy chứng nhận đăng ký số 60 017686 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021 đứng tên anh Nguyễn An T1; theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01 ngày 05 tháng 7 năm 2021.

Xét việc thế chấp tài sản đảm bảo khoản vay giữa các bên là tự nguyện và đúng theo quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần T2 đối với xe ô tô nhãn hiệu Mercedes – Benz GLC300; Màu trắng; Biển số 60A – 988.92; Giấy chứng nhận đăng ký số 60 017686 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021, trong trường hợp anh Nguyễn An T1 không có khả năng thanh toán số tiền nợ còn thiếu cho Ngân hàng thương mại cổ phần T2.

[3] Về chi phí tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn An T1 phải chịu 5.000.000₫ (năm triệu đồng) tiền chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Do nguyên đơn đã đóng tạm ứng chi phí để thực hiện thủ tục nêu trên, nên buộc bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên cần chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39, 68, khoản 1 Điều 147, Điều 180, Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 4, 90, 91, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các điều 116, 117, 385, 463, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 đối với bị đơn anh Nguyễn An T1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

    Buộc bị đơn anh Nguyễn An T1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 tổng số tiền tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2023 là 1.662.290.830 đồng (một tỷ sáu trăm sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi nghìn tám trăm ba mươi đồng) (trong đó dư nợ khoản vay mua xe ô tô và thanh toán phí bảo hiểm là: Nợ gốc 1.199.221.250 đồng, nợ lãi trong hạn 25.690.770 đồng, nợ lãi quá hạn 266.134.736 đồng; dư nợ khoản vay thẻ tín dụng 171.244.074 đồng).

    Tài sản bảo đảm thi hành án là 01 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes – Benz GLC300; Màu trắng; Biển số 60A – 988.92; Giấy chứng nhận đăng ký số 60 017686 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021 đứng tên anh Nguyễn An T1; theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01 ngày 05 tháng 7 năm 2021.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử bị đơn anh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên thỏa thuận về việc điều chính lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về chi phí tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn An T1 phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Buộc anh T1 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí tố tụng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2.
  3. Về án phí: Bị đơn anh Nguyễn An T1 phải chịu 61.868.725 đồng (sáu mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 số 25.692.043 đồng (hai mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn không trăm bốn mươi ba đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004908 ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 121/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 khởi kiện anh Nguyễn An T1 yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau: 1.Buộc anh Nguyễn An T1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 tổng số tiền (tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2023) là: 1.662.290.830 đồng (Bằng chữ: Một tỷ sáu trăm sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi nghìn tám trăm ba mươi đồng), trong đó: Dư nợ khoản vay mua xe ôtô và thanh toán phí bảo hiểm là: Nợ gốc 1.199.221.250 đồng; nợ lãi trong hạn: 25.690.770 đồng và nợ lãi quá hạn: 266.134.736 đồng Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng là: 171.244.074 đồng. 2.Buộc anh T tiếp tục trả tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2023 (theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ôtô số 1001/2021/HĐTD/TTBMN1/01 ngày 05 tháng 7 năm 2021; Hợp đồng cho vay số 1001/2021/HDTD/TTBMN1/02 ngày 05 tháng 7 năm 2021 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng TPBank Kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 17 tháng 7 năm 2021) cho đến khi anh Nguyễn An T1 thanh toán hết khoản nợ nêu trên. 3.Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn An T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 số tiền 5.000.000 đồng chi phí thực hiện thủ tục cấp, tống đạt bằng hình thức thông báo trên cổng phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến quá trình giải quyết vụ án. 4.Trong trường hợp, anh Nguyễn An T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên và phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay là: -Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes – Benz GLC300; Màu trắng; Biển số 60A –XXX; theo Giấy chứng nhận đăng ký số 60 017XXX do Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn An T1, là tài sản bảo đảm cho khoản vay như đã trình bày ở trên để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn An T1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Nguyễn An T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger