Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 121/2021/DS-PT
Ngày: 27 – 9 – 2021
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca
Các Thẩm phán: Ông Lâm Triệu Hữu
Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Yến – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2020/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 88/2020/DSST ngày 21 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 108/2021/QĐPT-DS ngày 22 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Lương Ngọc L1, sinh năm 1957; Cư trú tại: Đường T, khóm 3, phường 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  2. Ông Phan Văn N1, sinh năm 1958; Cư trú tại: Ấp A, xã L, huyện H, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Ngọc T.
  2. Bà Bùi Huệ N2.

Cùng cư trú tại: Đường T, khóm 3, phường 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Long; Trụ sở: Đường 30/4, phường 1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn L2. Chức vụ: Chủ tịch.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lương Ngọc L1, ông Phan Văn N1 và bị đơn ông Lê Ngọc T, bà Bùi Huệ N2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/10/2015 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phan Văn N1 và bà Lương Ngọc L1 trình bày:

Bà Lương Ngọc L1 là chủ sử dụng thửa đất số 70, tờ bản đồ số 5 (Vlap thửa 126, tờ bản đồ số 9), diện tích 214,1m2, loại đất thổ vườn được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long công nhận cho bà L1 theo Quyết định số 199/QĐ.UBT ngày 01/02/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giáp phần đất của bà L1 là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 5, diện tích 34,1m2, loại đất thổ do ông Lương Ngọc T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chương trình đo đạc Vlap năm 2013, ông T được cấp 44,9m2 thuộc thửa số 125, tờ bản đồ số 9. Lý do đất của ông T tăng là do lấn qua đất của bà L1 cụ thể:

  • Che mái hiên trước nhà dài 1,6m x 1,3m = 2,08m2.
  • Đầu trôi đòn tay cây tre lấn qua dài 4,5m x 0,4m = 1,8m2.
  • Rào đường hẻm sát nhà dài 10m x 0,5m = 5m2. Tổng cộng: 8,88m2.

Ông bà yêu cầu ông T trả lại 8,88m2 đất lấn chiếm thuộc thửa số 70, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại khóm 3, phường 4, thành phố V, đồng thời tháo dỡ toàn bộ vật liệu che chắn trên phần đất lấn chiếm, bà L1 không hỗ trợ chi phí tháo dỡ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố V được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với Ủy ban.

[2] Theo xác định ranh giới đất của bà L1, ông N2, ông T và kết quả khảo sát đo đạc ngày 15/4/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V tại cấp sơ thẩm thì phần đất tranh chấp diện tích đo đạc thực tế (4,0m2 + 2,4m2 = 6,4m2), còn lại 1,6m2 thuộc chiết thửa 122. Còn theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 17/6/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long và theo sự chỉ ranh của các đương sự thì phần đất tranh chấp giữa bà L1, ông N1 với ông T có diện tích là (3,7m2 + 3,8m2 = 7,5m2), còn lại 1,6m2 không thuộc thửa 126 và 1,1m2 chưa thống nhất ranh.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi, Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí; Điều 12, Điều 29, Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lương Ngọc L1, ông Phan Văn N1; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Ngọc T, bà Bùi Huệ N2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 88/2020/DSST ngày 21 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn N1 và bà Lương Ngọc L1. Công nhận ông Lê Ngọc T và bà Bùi Huệ N2 được quyền sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 3,7m2, gồm các mốc 4, 5, 14, 15, 16, 4, thuộc tờ bản đồ số 9, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại khóm 4, phường 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  2. Buộc bị đơn ông Lê Ngọc T và bà Bùi Huệ N2 trả giá trị phần đất diện tích 3,7m2 cho ông Phan Văn N1, bà Lương Ngọc L1 số tiền 58.651.200 đồng.
Nơi nhận:
- CA: 01;
- TACC: 01;
- VKSND TVL: 02;
- TAND TPVL: 01;
- VKSND TPVL: 01;
- Chi Cục THADS TPVL: 01;
- Đương sự: 05;
- Lưu: 04.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(đã ký)


Sơn Nữ Phà Ca
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2021/DS-PT ngày 27/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 121/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger