|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120A/2024/HS-PT
Ngày 10/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Đào Mạnh C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: Đào Mạnh C, sinh ngày 10/6/1981; tại xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn A P, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; vợ là Vũ Thị K và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại Bản án số 210/2011/HS-ST ngày 12/12/2011 của TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xử phạt Đào Mạnh C 12 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản; Buộc C phải trả cho ông Hồ Viết N 13.930.000 đồng; Án phí hình sự và án phí dân sự là 1.650.000 đồng. C đã chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 01/8/2012, chấp hành xong án phí hình sự và án phí dân sự; Đối với khoản tiền 13.930.000 đồng (tiền Ngân hàng N2) và 752 USD, C phải bồi thường cho ông N. Quá trình điều tra xác minh tại Chi cục THADS thành phố P, tỉnh Bình Thuận thể hiện ông N không có đơn yêu cầu thi hành án.
- Tại Bản án số 71/2013/HS - ST ngày 13/9/2013 của TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Đào Mạnh C 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản. Đến nay, C đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của Bản án, hiện nay đã được xóa án tích.
Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương, “có mặt”
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 09/4/2022, 10/4/2022, 11/4/2022 và 15/4/2022, Đào Mạnh C, sinh năm 1981 cùng với Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1971 đều trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (là hai người nghiện chất ma túy), nhiều lần rủ nhau mang theo búa tạ, xà cầy đến ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T, đối diện cổng sau của Ban Q thuộc xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 09/4/2022, Đào Mạnh C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star 110, màu xanh, BKS: 88H4 - 8729 của C, còn Nguyễn Hữu N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu World, màu đỏ, BKS: 88F2 - 6466 đi uống thuốc Methanol ở huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc về đến ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T, đối diện cổng sau Cụm Công nghiệp làng nghề Minh P thì C rủ N1 vào ngôi nhà này xem có tài sản gì sơ hở sẽ cùng nhau trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài, cả hai dựng xe trên lề đường rồi đi vào ngôi nhà này. Sau đó, C bảo N1 đứng đợi, còn C đi về nhà lấy 01 chiếc búa tạ bằng kim loại sắt và 01 chiếc xà cầy. Một lúc sau C cầm theo búa tạ và xà cầy quay lại, rồi C cùng N1 thay nhau dùng búa tạ bằng kim loại sắt đập vào bờ tường xi măng nơi có 02 ô cửa sổ bằng kim loại sắt trong ngôi nhà này, khiến bờ tường này bị vỡ gạch làm 02 ô cửa sổ bị rơi xuống đất. N1 cùng C tiếp tục dùng búa đập, dùng chiếc xà cầy bằng sắt có một đầu cong để cạy các mối hàn trên ô cửa sắt này nhằm tách rời các thanh sắt trên cửa sổ, xếp mang đi bán. Các thanh sắt này hình hộp chữ nhật có đường kính 01cm, loại sắt đặc. Sau đó, N1 và C bê các thanh sắt này đặt lên yên xe mô tô của C điều khiển xe chở N1 cùng số thanh sắt này đem đi bán. N1 và C mang số sắt này đến bán cho cửa hàng thu mua phế liệu của vợ chồng Đại Văn C1, sinh năm 1966 và Phạm Thị H1, sinh năm 1967 đều trú tại tổ dân phố C T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, địa chỉ cửa hàng ở thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đến cửa hàng thu mua phế liệu thì C và N1 gặp bà H1, tại đây C và N1 nói là công nhân mang sắt thanh lý của công trường đem bán nên bà Hòa đồng Ý mua và đặt số sắt này lên cân được trọng lượng là 33kg, bán với giá 12.000 đồng/01kg, bằng số tiền 400.000 đồng. Sau đó, N1 và C cầm tiền chia nhau mỗi người được 200.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.
- - Lần thứ hai: Vào ngày 10/4/2022, (C, N1 không nhớ rõ giờ), N1 rủ C đến ngôi nhà đang tháo dỡ nêu trên của Công ty TNHH T, sau đó N1 và C dùng búa tạ và xà cầy đập phá, cạy 01 ô cửa sổ bằng kim loại sắt có các thanh sắt có các đặc điểm như trên. Sau khi lấy được những thanh sắt này N1 và C mang đến cửa hàng thu mua phế liệu của vợ chồng Phạm Thị H1 và Đại Văn C1 để bán, cân được trọng lượng 25kg, bán với giá 12.000 đồng/01kg được số tiền 300.000 đồng. N1 và C chia nhau số tiền này mỗi người được 150.000 đồng, sau đó tiêu sài cá nhân hết.
- - Lần thứ ba: Vào khoảng 11 giờ ngày 11/4/2022, C tiếp tục rủ N1 đi trộm cắp tài sản. Lúc này, N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu World, màu đỏ, BKS: 88F2 - 6466 của N1 chở C ngồi sau mang theo búa tạ và xà cầy đến ngôi nhà đang tháo dỡ nêu trên của Công ty TNHH T để trộm cắp tài sản. Sau đó, N1 và C thay nhau dùng búa, xà cầy đập phá, cạy được 02 tấm sắt được hàn gắn bằng các thanh sắt thẳng hình hộp, đường kính 1cm, kích thước mỗi tấm là (04 x 02)m và 04 tấm tôn đã bị hoen gỉ, có kích thước dài 2,5m và rộng 1,2m. Tiếp đó, N1 lái xe chở C đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của vợ chồng Đại Văn C1 và Phạm Thị H1, tại đây N1 để lại xe mô tô của N1 tại cửa hàng của ông C1 và mượn xe mô tô loại xe lôi của ông C1 chở C ngồi phía sau quay lại ngôi nhà đang phá dỡ nêu trên, rồi N1 và C bê 01 tấm sắt và 04 tấm tôn do bị hoen gỉ lên xe lôi chở đến cửa hàng phế liệu của ông C1 bán với giá 12.000 đồng/01kg, riêng 04 tấm tôn do bị hoen rỉ không bán được nên bỏ luôn 04 tấm tôn này ở tại cửa hàng nhà ông C1, cân tấm sắt này được 108kg, bán được số tiền 1.300.000 đồng, rồi N1 và C chia nhau mỗi người được 650.000 đồng, sau đó tiêu sài cá nhân hết. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, C và N1 tiếp tục đến cửa hàng thu mua phế liệu nhà ông C1 mượn xe lôi của ông C1 đi đến ngôi nhà nêu trên để chở nốt 01 tấm sắt mà buổi sáng N1 và C đã đập phá cạy để ở nền nhà chưa đem đi bán. Khi đến nơi N1 và C bê tấm sắt này lên xe lôi và chở đến cửa hàng của ông C1 bán cho ông C1 với giá 12.000 đồng/01kg, cân tấm sắt này được 108kg, bán được số tiền 1.300.000 đồng. N1 và C chia nhau số tiền này mỗi người được 650.000 đồng, sau đó tiêu sài cá nhân hết.
- - Lần 4: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 13/4/2022, C một mình đi bằng xe mô tô của C đến ngôi nhà nêu trên rồi dùng búa tạ đập lấy trộm được 10 chiếc bản lề của cửa sổ được làm bằng kim loại sau đó đến bán cho ông C1, cân 10 chiếc bản lề được trọng lượng 8,3kg, với số tiền là 100.000 đồng, sau đó tiêu sài cá nhân hết.
- - Lần 5: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/4/2022, Nguyễn Hữu N1 và Đào Mạnh C đang cùng nhau trộm cắp tài sản tại ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T, đối diện cổng sau của Ban Q thuộc xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị lực lượng bảo vệ của Công ty phát hiện, giữ lại để làm việc. Lợi dụng sơ hở của lực lượng bảo vệ Công ty, Nguyễn Hữu N1 đã bỏ chạy thoát, sau đó Công ty cổ phần K1 đã trình báo và bàn giao Đào Mạnh C cho Công an xã N tiến hành giải quyết, xử lý. Ngày 18/4/2022, Công an xã N đã chuyển tin báo về tội phạm trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y. Ngay sau khi tiếp nhận tin báo về tội phạm trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tổ chức các hoạt động điều tra xác minh theo quy định của pháp luật.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường đối với vụ việc trên. Quá trình điều tra thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star 110, gắn BKS: 88H4 - 8729, màu sơn xanh, xe không có yếm, đã cũ, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) thanh kim loại (xà cầy) hình tròn đặc kích thước dài 85cm, hai đầu được đập dẹt, một đầu được bẻ cong, đường kính 2,5cm, đã cũ đã qua sử dụng.
- - 01 (một) chiếc búa cán gỗ, phần đầu búa làm bằng kim loại, phần cán búa bằng gỗ dài 48cm, đường kính 04cm; phần kim loại kích thước (13,5 x 4 x 4)cm, đã cũ đã qua sử dụng.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu World, màu sơn đỏ, gắn BKS: 88F2 - 6466, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
- - (01) một thanh kim loại (xà cầy) hình tròn đặc kích thước dài 72cm, hai đầu được đập dẹt, một đầu được bẻ cong, đường kính 2cm, đã cũ đã qua sử dụng.
- - 01 (một) chiếc búa cán gỗ, phần đầu búa bằng kim loại, phần cán búa bằng gỗ dài 36cm, đường kính 03cm; phần kim loại kích thước (12 x 3 x 3)cm, đã cũ đã qua sử dụng.
Ngày 13/7/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Y đã ra yêu cầu định giá tài sản số 200 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y xác định giá trị tài sản gồm:
- - Các thanh sắt thẳng hình hộp chữ nhật, đường kính 01cm, loại sắt đặc, trọng lượng 33kg.
- - Các thanh sắt thẳng hình hộp chữ nhật, đường kính 01cm, loại sắt đặc, trọng lượng 25kg.
- - 01 tấm sắt được hàn gắn bằng các thanh sắt thẳng hình hộp, đường kính 01cm, kích thước mỗi tấm là 04m x 02m, trọng lượng 108kg.
- - 04 tấm tôn bằng sắt, chiều dài 2,5m, chiều rộng 1,2m, đã hoen rỉ, trọng lượng 40kg.
- - 01 tấm sắt được hàn gắn bằng các thanh sắt thẳng hình hộp, đường kính 01cm, kích thước mỗi tấm là 04m x 02m, trọng lượng 108kg.
Là các tài sản mà Nguyễn Hữu N1 và Nguyễn Mạnh C2 đã trộm cắp được tại ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T. Ngày 13/7/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y đã ra Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 26/KL-HĐĐGTS kết luận:
- - Các thanh sắt thẳng hình hộp chữ nhật, đường kính 01cm, loại sắt đặc, trọng lượng 33kg có giá trị là 363.000 đồng (Ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
- - Các thanh sắt thẳng hình hộp chữ nhật, đường kính 01cm, loại sắt đặc, trọng lượng 25kg có giá trị là 275.000 đồng (Hai trăm bảy mươi năm nghìn đồng).
- - 02 tấm sắt được hàn gắn bằng các thanh sắt thẳng hình hộp, đường kính 01cm, kích thước mỗi tấm là 04m x 02m, trọng lượng mỗi tấm là 108kg có giá trị tài sản là 2.376.000 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
- - 04 tấm tôn bằng sắt, chiều dài 2,5m, chiều rộng 1,2m, đã hoen rỉ, trọng lượng 40kg có giá trị tài sản là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
Ngày 13/7/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Y đã ra yêu cầu định giá tài sản số 201 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y xác định giá trị tài sản gồm 10 chiếc bản lề cửa sổ, loại sắt đặc, trọng lượng 8,3kg là tài sản mà Đào Mạnh C đã trộm cắp được tại ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T. Ngày 13/7/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y đã ra Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 27/KL-HĐĐGTS kết luận: Tổng giá trị của tài sản nêu trên là: 91.300 đồng.
Như vậy, trong khoảng thời gian ngắn vào các ngày 09, 10, 11 và ngày 15/4/2022, Nguyễn Hữu N1, Đào Mạnh C đã lợi dụng sơ hở của bảo vệ Công ty TNHH T trong việc quản lý tài sản nên C và N1 đã lén lút, bí mật trộm cắp tài sản là các tấm ô cửa sổ bằng kim loại sắt tại ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T thuộc Cụm C. Tổng giá trị tài sản là 3.414.000 đồng.
Ngoài ra, C còn phải chịu đối với giá trị trộm cắp ngày 13/4/2022 là 91.300 đồng, tổng giá trị C phải chịu là 3.505.300 đồng. Nên ngày 14/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ án Trộm cắp tài sản phát hiện ngày 15/4/2022 tại thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 20/12/2023 ra các Quyết định khởi tố bị can đối với Đào Mạnh C và Nguyễn Hữu N1 đều về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra và xét xử sơ thẩm, bị cáo Đào Mạnh C đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Đào Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đào Mạnh C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 30/7/2024, bị cáo C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi nghe tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Mạnh C, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Mạnh C 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo Nguyễn Hữu N1.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 55, 56, 17 và 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 01 (Một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (Hai) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HS - ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 28/6/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo C làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về nội dung vụ án: Trong các ngày 09/4, 10/4, 11/4 và ngày 15/4/2022, Nguyễn Hữu N1, Đào Mạnh C đã lợi dụng sơ hở của bảo vệ Công ty TNHH T trong việc quản lý tài sản, nên N1 và C đã lén lút, bí mật trộm cắp tài sản là các tấm ô cửa sổ bằng sắt tại ngôi nhà đang tháo dỡ của Công ty TNHH T, thuộc Cụm C. Tổng giá trị tài sản trộm cắp trong các ngày là 3.414.000 đồng. Ngoài ra, C còn phải chịu trách nhiệm đối với giá trị tài sản trộm cắp ngày 13/4/2022 là 91.300 đồng, tổng giá trị C phải chịu là 3.505.300 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo C 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội không oan sai.
-
Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo C có nhân thân xấu, đã bị 02 lần xét xử về tội Trộm cắp tài sản, cụ thể: Năm 2011, bị cáo C bị TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù; Buộc C phải trả cho ông Hồ Viết N 13.930.000 đồng (tiền Ngân hàng N2) và 752 USD; Án phí hình sự và án phí dân sự là 1.650.000 đồng. C đã chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 01/8/2012, C chấp hành xong án phí hình sự và án phí dân sự; Đối với khoản tiền 13.930.000 đồng (tiền Ngân hàng N2) và 752 USD, C phải bồi thường cho ông N. Quá trình điều tra xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận thể hiện ông N không có đơn yêu cầu thi hành án, đến nay thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với phần bồi thường trách nhiệm dân sự đã hết. Hơn nữa, năm 2020, ông N đã chết, bà Nguyễn Thị B1 (vợ ông N) và anh Hồ Anh V (con trai ông N) trình bày không yêu cầu Đào Mạnh C phải bồi thường số tiền 13.930.000 đồng (tiền Ngân hàng N2) và 752 USD. Do vậy, nên xử lý theo hướng có lợi cho bị cáo C, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Năm 2013, bị cáo Đào Mạnh C bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 01 năm tù, vẫn về tội Trộm cắp tài sản. Đến nay, C đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của Bản án.
- Tại cấp phúc thẩm bị cáo trình bày sau khi bị tai nạn sức khỏe kém, một bên mắt không nhìn được, bị rối loạn đông máu khó điều trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo C có nhân thân xấu, đã hai lần bị xét xử về tội trộm cắp, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học, mà lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, do đó việc cho bị cáo hưởng án treo không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa và giáo dục, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại trại giam. Tuy nhiên như phân tích ở trên bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn, bản thân bị cáo có sức khỏe không tốt, do đó áp dụng chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị cáo Nguyễn Hữu N1 đồng phạm với bị cáo C về tội trộm cắp tài sản, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp giá trị không lớn, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N1 01 năm 04 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Do đó, tuy bị cáo không kháng cáo, nhưng Hội đồng xét xử xem xét tính chất, vai trò phạm tội của bị cáo N1 trong vụ án và trên cơ sở đề nghị của Viện kiểm sát, căn cứ khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
- Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo C giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo C không phải chịu do kháng cáo được chấp nhận một phần.
- Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Mạnh C, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuyên bố bị cáo Đào Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Mạnh C 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 55, 56, 17 và 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 01 (Một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (Hai) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HS - ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 28/6/2023 (Thời hạn tạm giam của Bản án HSST số 146/2023/HS - ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc).
- Về án phí: Bị cáo Đào Mạnh C không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 120A/2024/HS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 120A/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Mạnh Cường
