|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày: 31 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Đào Khel |
| Ông Hà Văn Châu |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị C, sinh ngày: 01/01/1968 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: số E, đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: giúp việc nhà; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N (chết) và bà Trương Thị N1; chồng: Nguyễn Văn M, con: 01 người, sinh năm 2005; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/4/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1988 (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Mỹ N2, sinh năm 1995 (có mặt).
Nơi cư trú cùng: Số C, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của ông K: Bà Huỳnh Thị Mỹ N2, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số C, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Quý A, sinh ngày: 10/11/2005. Nơi cư trú: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: số E, đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 31/3/2023, Nguyễn Thị C được vợ chồng bà Huỳnh Thị Mỹ N2 và ông Ngô Trung K1 thuê trông con nhỏ và giúp việc nhà. Trong thời gian bà N2 và ông K1 không có nhà, C đã nhiều lần lấy trộm tiền trong ba con heo đất của bà N2 và ông K1, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào cuối tháng 5 năm 2023, khi đang dọn phòng thì C phát hiện bà N2 và ông K1 để 03 con heo đất trong tủ gỗ ở phòng ngủ, bên trong các con heo đất để tiền nên C lấy một cái muỗng loại inox khều tiền trong heo đất ra lấy trộm được số tiền 500.000 đồng. Sau khi lấy trộm được tiền, C để con heo đất này lại ở vị trí ban đầu.
Lần thứ 2: Cách lần thứ nhất khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 5.000.000 đồng.
Lần thứ 3: Cách lần thứ hai khoảng 03 ngày, C lấy dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 1.000.000 đồng.
Lần thứ 4: Cách lần thứ ba khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 2.000.000 đồng.
Lần thứ 5: Cách lần thứ tư khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 3.000.000 đồng.
Lần thứ 6: Cách lần thứ năm khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 2.000.000 đồng.
Lần thứ 7: Cách lần thứ sáu khoảng 03 ngày, C dùng cây muồng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 2.500.000 đồng.
Lần thứ 8: Cách lần thứ bảy khoảng hai tuần, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 1.000.000 đồng.
Lần thứ 9: Cách lần thứ tám khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 1.000.000 đồng.
Lần thứ 10: Cách lần thứ chín khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 3.000.000 đồng.
Lần thứ 11: Cách lần thứ 10 khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 5.000.000 đồng.
Lần thứ 12: Cách lần thứ 11 khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 2.000.000 đồng.
Lần thứ 13: Cách lần thứ 12 khoảng 03 ngày, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 5.000.000 đồng.
Lần thứ 14: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/12/2023, C dùng cây muỗng bằng inox khều tiền trong con heo đất lấy trộm số tiền 3.000.000 đồng.
Tổng số tiền C lấy trộm của bà N2 và ông K1 trong 03 con heo đất là 36.000.000 đồng và sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân. Quá trình điều tra, bà N2 và ông K1 cho rằng C lấy trộm của ông bà tổng số tiền trong 03 con heo đất là 83.800.000 đồng, tuy nhiên bị cáo C không thừa nhận.
Tại Cáo trạng số 112/CT-VKSTPST ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Thị C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo C, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo C có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo và tự khai ra những lần phạm tội trước đó; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại chọ bị hại số tiền 20.000.000 đồng quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng tình tiết tăng nặng: Do bị cáo lấy trộm tài sản của bị hại 14 lần, trong đó 10 lần từ 2.000.000 đồng trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho ông Nguyễn Trung K và bà Huỳnh Thị Mỹ N2.
02 (hai) con heo đất màu vàng, kích thước dài 28cm, ngang 18cm, cao 18cm, bên trái có chữ “T”, bên phải có chữ “L” màu đỏ;
01 (một) con heo đất màu vàng có họa tiết hình đồng xu, kích thước dài 25cm, rộng 25cm, cao 28cm;
01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen, qua sử dụng và số tiền 2.500.000 đồng.
01 (một) cái muỗng kim loại màu trắng dài 16 cm, đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị C thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý bồi thường tiếp tục cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng trong đó có tiền tổn thất tinh thần, ngoài ra đồng ý giao 01 chiếc xe đạp điện và số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo do cơ quan điều tra đang giữ cho bà N2. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại bà Huỳnh Thị Mỹ N2 trình bày: Bị cáo trình bày trộm số tiền 36.000.000 đồng là không đúng, theo bà N2 số tiền mất cắp là 83.800.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự bà N2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng, do bị cáo đã bồi thường được 20.000.000 đồng nên yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 50.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị C thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Thị C là người được vợ chồng bà Huỳnh Thị Mỹ N2 và ông Ngô Trung K1 thuê chăm con nhỏ và giúp việc nhà tại số C, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 5/2023 đến ngày 04/12/2023, vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lén lút lấy trộm tiền từ 03 con heo đất của vợ chồng ông K1 và bà N2 gồm 14 lần với số tiền tổng cộng 36.000.000 đồng.
[3] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Từ đó, Cáo trạng số 112/CT-VKSTPST ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo lấy trộm tài sản của bị hại 14 lần, trong đó 10 lần số tiền từ 2.000.000 đồng trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, bị cáo C có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; tự khai ra những lần phạm tội trước đó; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng được quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với 02 (hai) con heo đất màu vàng, kích thước dài 28cm, ngang 18cm, cao 18cm, bên trái có chữ “T”, bên phải có chữ “L” màu đỏ; 01 (một) con heo đất màu vàng có họa tiết hình đồng xu, kích thước dài 25cm, rộng 25cm, cao 28cm; 01 (một) cái muỗng kim loại màu trắng dài 16 cm, đã qua sử dụng là tài sản của ông K1 và bà N2 nên cần trả lại cho ông K1 và bà N2.
[7.2] Đối với 01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen, đã qua sử dụng bị cáo dùng tiền trộm cắp để mua và số tiền 2.500.000 đồng là tiền trộm cắp của bị hại mà có, bị hại đồng ý nhận chiếc xe đạp điện và số tiền 2.500.000 đồng nêu trên, nên ghi nhận trả vật chứng và số tiền trên cho ông K1 và bà N2.
[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại ông K1 và bà N2 cho rằng số tiền mất trộm 83.800.000 đồng và yêu cầu bồi thường 70.000.000 đồng. Theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo thể hiện, bị cáo chiếm đoạt của bị hại 14 lần với số tiền 36.000.000 đồng. Bị hại không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền mất trộm 83.800.000 đồng, nên Hội đồng xét xử chỉ có căn cứ xác định số tiền bị cáo lấy trộm tiền từ 03 con heo đất của vợ chồng ông K1 và bà N2 14 lần số tiền tổng cộng 36.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng, trong đó có tiền tổn thất tinh thần, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khắc phục cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, nên bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 20.000.000 đồng.
[9] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm có nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật.
[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho ông Nguyễn Trung K và bà Huỳnh Thị Mỹ N2.
- + 02 (hai) con heo đất màu vàng, kích thước dài 28cm, ngang 18cm, cao 18cm, bên trái có chữ “T”, bên phải có chữ “L” màu đỏ.
- + 01 (một) con heo đất màu vàng có họa tiết hình đồng xu, kích thước dài 25cm, rộng 25cm, cao 28cm.
- + 01 (một) cái muỗng kim loại màu trắng dài 16 cm, đã qua sử dụng.
Ghi nhận tự nguyện của bị cáo và bị hại, giao trả cho ông Nguyễn Trung K và bà Huỳnh Thị Mỹ N2 01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen đã qua sử dụng và số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo C bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Trung K và bà Huỳnh Thị Mỹ N2 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
