TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/DS-ST
Ngày: 31/5/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Dung
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 562/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.
Địa chỉ: Tầng A, 2, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số B, đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh G, sinh năm 1989 (Có mặt).
Địa chỉ phòng G1: Số D, Quốc lộ A, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
- Bà Đặng Thị Tuyết N, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện nguyên đơn ông Danh Đăng K trình bày:
Cùng ngày 12/9/2013, giữa Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh H, phòng G1 với ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N có ký Hợp đồng tín dụng số: 101814700013TD1-HĐTD-Lienvietpostbank-TPT và Khế ước nhận nợ số: 101814700013TD1-KU01-L-Phòng G1 với nội dung như sau:
- + Số tiền vay 160.000.000 đồng;
- + Mục đích vay bổ sung vốn mua bưởi lá, chăm sóc vườn;
- + Thời hạn vay 11 tháng;
- + Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 14,5%; Phương pháp áp dụng lãi suất thả nổi, định kỳ tự động điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng TMCP B và mức lãi suất định kỳ điều chỉnh không thấp hơn mức lãi suất cho vay tối thiểu thông thường của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả là 0,1%/ngày tính trên số ngày chậm trả và số tiền lãi phải trả lãi.
- + Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ; Kỳ hạn trả lãi: Định kỳ 06 tháng/lần.
Để đảm bảo khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba (hợp đồng bảo lãnh) số: 1040/2013/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 12/9/2013 với Ngân hàng TMCP B về việc thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 2.972,4m² (đất trồng lúa), thuộc thửa số 1007, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 276984 (Số vào sổ: CH 00782) do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 11/12/2012.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng do ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N không thanh toán nợ gốc và lãi theo đúng nội dung hợp đồng đã ký nên khoản nợ vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu ông T, bà N thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay nhưng ông bà vẫn không thực hiện.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/3/2023 là 554.371.090 đồng (Trong đó, nợ gốc: 160.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 21.265.673 đồng; nợ lãi quá hạn: 304.403.333 đồng; lãi phạt chậm trả: 68.702.084 đồng) và lãi suất phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N không thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba (hợp đồng bảo lãnh) số: 1040/2013/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 12/9/2013 để Ngân hàng thu hồi nợ.
* Bị đơn ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt, không rõ lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
* Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Do có mối quan hệ họ hàng với ông N1 (cháu họ) nên ông cho ông N1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng. Ông xác nhận có ký vào hợp đồng thế chấp nhưng không có nhận bất kỳ khoản tiền nào từ ông N1. Khi ông N1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông nói để vay tiền Ngân hàng lấy vốn để mua bán cam, do có mối quan hệ thân thích nên ông cho mượn. Khi Ngân hàng cho vay có tiến hành xem xét thẩm định tài sản thế chấp. Hiện tại, phần đất thế chấp thửa số 1007 do bà Nguyễn Thị M đang canh tác lúa. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B thì ông đề nghị xem xét giảm toàn bộ nợ lãi, chỉ thanh toán nợ gốc để các ông bà nhận lại tài sản thế chấp.
* Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày: Phần quyền sử dụng đất thế chấp thửa 1007 do bà đang canh tác lúa nhưng do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh G trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số: 101814700013TD1-HĐTD-Lienvietpostbank-TPT ngày 12/9/2013 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 527.332.340 đồng (Trong đó, nợ gốc là 160.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 21.265.673 đồng và nợ lãi quá hạn là 346.066.667 đồng) và tiếp tục thanh toán lãi suất phát sinh từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N không thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp của ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 là quyền sử dụng đất diện tích 2.972,4m² (đất trồng lúa), thuộc thửa số 1007, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 276984 (Số vào sổ: CH 00782) do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 11/12/2012, thuộc Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba (hợp đồng bảo lãnh) số: 1040/2013/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 12/9/2013 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thanh toán tiền lãi phạt chậm trả lãi với số tiền 77.867.589 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, việc xác định tư cách tố tụng là phù hợp. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vi phạm nghĩa vụ có mặt theo triệu tập của Tòa án, đồng thời do Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng các đương sự vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay với tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 527.332.340 đồng (Trong đó, nợ gốc là 160.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 21.265.673 đồng, nợ lãi quá hạn là 346.066.667 đồng) và tiếp tục thanh toán lãi suất phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ. Trong trường hợp ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N không thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi nợ.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về việc yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thanh toán tiền lãi phạt chậm trả lãi với số tiền 77.867.589 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký, trường hợp không trả được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Thủ tục tố tụng:
+ Tại phiên tòa bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Ngoài ra, xét đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thanh toán tiền lãi phạt chậm trả lãi với số tiền 77.867.589 đồng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nội dung:
[3.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ vay theo hợp đồng tín dụng của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 101814700013TD1-HĐTD-Lienvietpostbank-TPT và Khế ước nhận nợ số: 101814700013TD1-KU01-L-Phòng G1 cùng ngày 12/9/2013 (BL 40 -42) đã thể hiện cụ thể nội dung giữa Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh H, phòng G1 với ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N có xác lập giao dịch về tín dụng với tổng số tiền cho vay là 160.000.000 đồng, thời hạn vay 11 tháng, mục đích sử dụng vốn vay nhằm bổ sung vốn mua bưởi lá, chăm sóc vườn, lãi suất cho vay trong hạn là 14,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã không thanh toán được nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng nên đã quá hạn từ ngày 17/3/2014. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả tổng số tiền nợ vay tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 527.332.340 đồng (Trong đó, nợ gốc là 160.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 21.265.673 đồng, nợ lãi quá hạn là 346.066.667 đồng) và tiếp tục thanh toán lãi suất phát sinh từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Ngoài ra, đối với yêu cầu được miễn toàn bộ nợ lãi, chỉ trả nợ gốc của ông Nguyễn Văn T1 là phụ thuộc vào sự tự nguyện của nguyên đơn, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã nêu ra nhưng phía đại diện Ngân hàng TMCP B không đồng ý nên không có cơ sở để xem xét.
[3.2] Đối với yêu cầu phải mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba (hợp đồng bảo lãnh) số: 1040/2013/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 12/9/2013 (BL 36 – 39) thể hiện nội dung ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 sử dụng tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 2.972,4m² (đất trồng lúa), thuộc thửa số 1007, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 276984 (Số vào sổ: CH 00782) do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 11/12/2012 để bảo lãnh cho tất cả các hợp đồng cấp tín dụng giữa ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N ký với Ngân hàng TMCP B trong khoảng thời gian từ ngày 12/9/2013 đến ngày 12/9/2018.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 xác định có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng TMCP B và khi cho vay Ngân hàng có tiến hành thẩm định tài sản. Sau khi ký hợp đồng thế chấp, Ngân hàng TMCP B đã tiến hành đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với theo quy định tại Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 303, khoản 1 Điều 317, Điều 319, khoản 7 Điều 323, Điều 335, Điều 336, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N phải chịu với số tiền là 5.000.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền này.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị đơn ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nguyên đơn Ngân hàng TMCP B được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 303, khoản 1 Điều 317, Điều 319, khoản 7 Điều 323, Điều 335, Điều 336, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về việc buộc ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N thanh thanh toán tiền lãi quá hạn chậm trả với số tiền 77.867.589 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 527.332.340 đồng (Trong đó, nợ gốc là 160.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 21.265.673 đồng, nợ lãi quá hạn là 346.066.667 đồng) và tiếp tục chịu lãi từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ, mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số: 101814700013TD1-HĐTD-Lienvietpostbank-TPT ngày 12/9/2013.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N không thanh toán hết nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 2.972,4m² (đất trồng lúa), thuộc thửa số 1007, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 276984 (Số vào sổ: CH 00782) do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 11/12/2012 để thu hồi nợ.
- Bị đơn ông Nguyễn Minh T, bà Đặng Thị Tuyết N phải chịu 26.336.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B được nhận lại 13.087.000 đồng (Mười ba triệu, không trăm tám mươi bảy nghìn) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0005169 ngày 19/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Hứng |
Bản án số 120/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 120/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP B và bị đơn ông Nguyễn Minh T và bà Đặng Thị Tuyết N
