TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tài Em
- Ông Liêu Tài Ngoánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265a/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXX- ST ngày 28 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐXX- ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp An Nghiệp, xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
- Bị đơn: Chị Kiều Tuyết N, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 15, xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn là anh Nguyễn Văn K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị N xây dựng hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Sau khi cưới xong vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm; thường xuyên cải vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và hiện tại vợ chồng anh đã sống ly thân. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn hạnh phúc nên anh yêu cầu được ly hôn với chị N.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 người con chung tên là Nguyễn Trọng Nghĩa, sinh ngày 14/08/20213 hiện tại đang ở với chị N, khi ly hôn anh tự nguyện giao con cho chị N nuôi dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh K xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Kiều Tuyết N đã được Tòa án tống đạt các văn bản hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến
* Ý kiến của kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng quy định pháp luật. Đối với bị đơn được tống đạt các quyết định hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đủ điều kiện xét xử.
Về nội dung đề xuất: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 53, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn K đối với chị Kiều Tuyết N.
- + Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng Nghĩa, sinh ngày 14/08/20213 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Anh K xác định không có nên không đặt ra xem xét
- + Về án phí: Anh K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn K và bị đơn là chị Kiều Tuyết N, địa chỉ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Tại phiên tòa, anh K vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, anh K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị N được Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị N xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo truyền thống và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị N là hợp pháp được Luật hôn nhân và gia đình bảo vệ.
Xét về nguyên nhân, anh K cho rằng trong quá trình chung sống với chị N do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không hạnh phúc và hiện tại vợ chồng anh không còn chung sống với nhau, nay anh xét thấy, tình cảm giữa vợ chồng anh không thể tiếp tục sống chung được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng anh K và chị N không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cãi nhau và hiện tại không còn chung sống với nhau và cũng không có liên lạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng; điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa vợ chồng anh đã có xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K.
[2] Về quan hệ con chung: Anh K xác định vợ chồng anh có 01 người con chung tên là Nguyễn Trọng Nghĩa, sinh ngày 14/08/20213 hiện đang ở với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy hiện cháu Nghĩa đang ở với chị N và có ý kiến ở với chị N nên giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh K xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Anh K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn K đối với chị Kiều Tuyết N, xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn K và chị Kiều Tuyết N.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng Nghĩa, sinh ngày 14/08/20213 cho chị Kiều Tuyết N tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Kiều Tuyết N không yêu cầu. Anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Nguyễn Văn K đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005603 ngày 27/09/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
- Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nam |
Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn K đối với chị Kiều Tuyết N, xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn K và chị Kiều Tuyết N. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng Nghĩa, sinh ngày 14/08/20213 cho chị Kiều Tuyết N tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn K không phải cấp 4 dưỡng nuôi con vì chị Kiều Tuyết N không yêu cầu. Anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Nguyễn Văn K đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005603 ngày 27/09/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí. 4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
