TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/DS-ST Ngày: 28 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông/Bà Tô Minh Phú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2023/TLST - DS, ngày 28 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-DS, ngày 10 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 175/2024/QĐST-DS, ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: - Bà Phan Thị Hồng T, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số D - N, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
+Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng của bà Phan Thị Hồng T theo văn bản ủy quyền ngày 31 tháng 07 năm 2023: - Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1999. Có mặt, ông Thái Trung N, sinh năm 1981, ông Nguyễn Thái V, sinh năm 1998, ông Dương Minh P, sinh năm 2000, bà Võ Ngọc N1, sinh năm 2001- Cùng địa chỉ: Số B, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: - Bà Hồ Hoàng N2, sinh năm 1993. Vắng mặt
Địa chỉ: Số E, Trần Văn T1, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 25 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình tố tụng, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do chỗ quen biết nên bà Phan Thị Hồng T có cho bà Hồ Hoàng N2 vay tiền nhiều lần bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng từ ngày 23 tháng 12 năm 2021 đến ngày 24 tháng 10 năm 2022 với tổng số tiền 428.800.000 đồng, không có làm hợp đồng vay hay biên nhận tiền vay. Khi cho bà N2 vay tiền lãi suất vay là 20%/năm thỏa thuận miệng. Bà T nhiều lần yêu cầu bà N2 trả số tiền nêu trên nhưng đến nay bà N2 chưa trả.
Tại bản tự khai ngày 19 tháng 4 năm 2024, đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu số tiền nợ gốc: 448.800.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2023 với mức lãi suất 10%/năm.
Cụ thể các lần chuyển khoản với số tiền như sau:
- Ngày 02 tháng 12 năm 2021: chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyển khoản”.
- Ngày 23 tháng 12 năm 2021: chuyển khoản 40.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien Hera”.
- Ngày 24 tháng 12 năm 2021: chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan coc tien Hera”.
- Ngày 27 tháng 12 năm 2021: chuyển khoản 6.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien Hera”.
- Ngày 13 tháng 4 năm 2022: chuyển khoản 20.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “Trang chuyen tien hang thang 4"
- Ngày 15 tháng 4 năm 2022: Chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen khoan”.
- Ngày 25 tháng 4 năm 2022: Chuyển khoản 78.800.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien".
- Ngày 25 tháng 9 năm 2022: Chuyển khoản 20.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien”.
- Ngày 21 tháng 10 năm 2022: Chuyển khoản 29.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien”.
- Ngày 24 tháng 10 năm 2022: chuyển khoản 95.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien”.
- Ngày 19 tháng 12 năm 2022 chuyển khoản 10.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T phan chuyen tien”.
Những nội dung bà Phan Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu giải quyết: Buộc bà Hồ Hoàng N2 trả số tiền gốc 448.800.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%/năm.
Tại phiên tòa:
- Đại diện ủy quyền của bà Phan Thị Hồng T trình bày: Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Hồ Hoàng N2 trả số tiền gốc 448.800.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%/năm với số tiền 66.946.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Tổng tiền gốc và lãi bà Hồ Hoàng N2 phải trả là 515.746.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Tiếp tục tính lãi cho đến khi bà N2 thanh toán xong nợ.
- Bà Hồ Hoàng N2 đã được cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng có tại hồ sơ, lời trình bày của đại diện ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa: Giữa bà T và bà N2 thỏa thuận vay tiền bằng hình thức chuyển khoản, không lập biên bản. Chứng cứ, tài liệu bà T cung cấp cho các lần chuyển khoản cho bà N2 với số tiền 448.800.000 đồng. Bà N2 vắng mặt, không có văn bản hay ý kiến phản bác lại yêu cầu khởi kiện của bà T. Tuy nhiên căn cứ vào Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh và qua đánh giá, xem xét chứng cứ thì hai lần chuyển khoản với nội dung “coc tien” và “tien hang thang 4” với số tiền 70.000.000 đồng không có căn cứ chấp nhận. Về lãi suất: Bà T cho bà N2 vay tiền không lập biên bản và cũng không có văn bản nào thể hiện có thỏa thuận lãi suất và thời gian vay, không có có văn bản thể hiện bà T có thông báo cho bà N2 biết về việc bà T đòi lại tiền vay. Do đó yêu cầu bà N2 trả lãi là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay. Bị đơn có nơi cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Theo kết quả xác minh của Công an phường H, quận C, thành phố Cần Thơ thì bà Hồ Hoàng N2 có đăng ký thường trú tại số E, Trần Văn T1, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, chưa có thông tin thay đổi nơi đăng ký thường trú và không còn sinh sống tại địa chỉ trên từ tháng 10 năm 2021. Bà Hồ Hoàng N2 thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn biết thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, Tòa án tiến hành các thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Hồ Hoàng N2 theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án và xét xử vắng mặt bà Hồ Hoàng N2.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu nguyên đơn giao nộp, thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nợ gốc: Bà Phan Thị Hồng T có chuyển khoản cho bà Hồ Hoàng N2 số tiền 448.800.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua internet B (kèm sao kê lịch sử giao dịch của Ngân hàng). Việc xác lập hợp đồng vay bằng hình thức chuyển khoản giữa các đương sự dựa trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N2 đã được cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng bà N2 vắng mặt không có văn bản ý kiến hay phản bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng T. Như vậy, bà Hồ Hoàng N2 đã từ bỏ quyền chứng minh của mình. Đối chiếu với các chứng cứ, tài liệu bà Phan Thị Hồng T giao nộp thì ngày 24 tháng 12 năm 2021 bà T chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “Trang phan coc tien Hera” và ngày 13 tháng 4 năm 2022 chuyển khoản 20.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản “T chuyen tien hang thang 4” thì nội dung chuyển khoản không thể hiện là tiền vay nên chứng cứ này không đủ cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về tiền lãi: Đại diện ủy quyền của bà Phan Thị Hồng T yêu cầu lãi suất 10%/năm tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền 66.946.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Xét thấy, bà T cho bà N2 vay tiền bằng hình thức chuyển khoản không có văn bản thể hiện thời gian vay và lãi suất vay chỉ thỏa thuận miệng, từ khi vay bà N2 chưa trả lãi lần nào. Do đó, Hợp đồng vay giữa bà T và bà N2 được xác định là hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi suất thì bên vay không phải trả lãi. Do đó, bà T yêu cầu bà N2 trả lãi là không đủ cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Hồng T.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Hoàng N2 phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Bà Phan Thị Hồng T phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận.
[4] Về lệ phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 2.868.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng), bà Phan Thị Hồng T phải chịu theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 108, 180, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 117, 119, 357,463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng T đối với bà Hồ Hoàng N2.
Buộc bà Hồ Hoàng N2 có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Hồng T số tiền 378.800.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- [2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Hồ Hoàng N2 phải chịu 18.940.000 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Bà Phan Thị Hồng T phải chịu 6.847.300 đồng (Bằng chữ: Sáu triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp đã nộp theo biên lai thu số 0003154, ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Bà Phan Thị Hồng T được nhận lại 4.408.700 đồng (Bằng chữ: Bốn triệu bốn trăm lẽ tám nghìn bảy trăm đồng).
- [3]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 120/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 120/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHan Thị Hồng Trang
