|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 27-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thuý Hằng.
Ông Trần Minh Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 322/2024/QĐST-HS ngày 09/5/2024 đối với bị cáo:
Phạm Phú Đ, sinh năm 1987, tại tỉnh Long An;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Có vợ Huỳnh Thị Kiều D, sinh năm 1992 và có hai con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Bà Hoàng Thị Mỹ L, sinh năm 1969 (đã chết ngày 02/10/2023)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
+ Ông Nguyễn Dương X, sinh năm 1967.
Nơi đăng ký thường trú: Làng Klăh, xã I, huyện C, Gia Lai.
Chổ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
+ Anh Nguyễn Văn Hải L1, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Đ2, chị H và anh L1: Ông Nguyễn Dương X, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Ông X vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Phú Đ là tài xế lái xe thuê cho anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1973, có nơi đăng ký thường trú tại: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An, Đ có giấy phép lái xe hạng C. Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 02/10/2023, Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 66H-035.89 do anh P làm chủ, lưu thông trên đường T theo hướng từ xã P đi đường T. Khi lưu thông đến giao lộ đường T và đường nhánh không tên thuộc Khu công nghiệp N, khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Đông bật xi nhan xin chuyển hướng rẽ phải vào đường nhánh, nhưng do thiếu quan sát và chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến xe Đông va chạm với xe mô tô biển số 81B2-567.98 do bà Hoàng Thị Mỹ L (sinh năm 1969, Nơi đăng ký thường trú: Làng Klăh, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) điều khiển lưu thông cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả vụ tai nạn làm làm bà L tử vong.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (Một) ô tô tải biển số 66H-035.89; 01 (Một) xe mô tô biển số 81B2-567.98.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường thể hiện:
Điều kiện thời tiết: trời sáng, không mưa.
Tình trạng hiện trường: hiện trường không còn nguyên vẹn do người bị thương được đưa đi cấp cứu, mật độ phương tiện qua lại đông.
Chọn trụ điện đôi số 56 làm điểm mốc để đo vẽ các dấu vết phương tiện.
Chọn mép đường bên phải của đường nhánh không tên làm mép chuẩn để đo vẽ các dấu vết, phương tiện.
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao lộ đường T và đường nhánh không tên nội ô Khu công nghiệp N, thuộc khu phố P, thị trấn H. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, là giao lộ nên tầm nhìn bị hạn chế, đường rộng 14m.
Xe ô tô BKS: 66H-035.89 (được ký hiệu là 1) sau tai nạn đỗ tại hiện trường, đầu xe hướng về đường T, đuôi xe hướng về đường T. Hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải của xe cách điểm mốc là 12,9m và cách mép chuẩn là 5,6m. Hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải trục 2 cách mép chuẩn là 5,7m, hình chiếu tâm trục bánh bên phải trục 3 cách mép chuẩn 5,7m.
Xe mô tô BKS: 81B2-456.87 (được ký hiệu là 2) sau tai nạn ngã nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe hướng về mép chuẩn, đuôi xe hướng ngược lại, hình chiếu tâm trục bánh trước của xe cách mép chuẩn 3,8m, hình chiếu tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 5m và cách hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải trục 3 xe (1) là 1,6m, gác chân sau bên trái của xe cách mép chuẩn 4,7m.
Vết máu 1 (được ký hiệu là 3) xuất hiện trên mặt đường cách mép chuẩn 5,65m và cách hình chiếu bánh xe bên phải trục 2 của xe (1) là 01m.
Vết máu 2 (được ký hiệu là 4) xuất hiện trên mặt đường cách mép chuẩn là 4,3m và cách hình chiếu bánh xe bên phải trục 2 của xe (1) là 1,7m.
Vết cày (được ký hiệu là 5) xuất hiện trên mặt đường sau tai nạn, đầu vết cày cách mép chuẩn 3,2m, đuôi vết cày nằm ngay gác chân bên trái xe (2), vết cày dài 7,7m.
Vết lốp 1 (được ký hiệu là 6) xuất hiện trên mặt đường sau tai nạn, đầu vết lốp cách mép chuẩn 4,1m, đuôi vết lốp nằm ngay bánh xe bên phải trục 3 xe (1), vết lốp dài 7m.
Vết lốp 2 (được ký hiệu là 7) xuất hiện trên mặt đường sau tai nạn, đầu vết lốp cách mép chuẩn 7,1m, đuôi vết lốp nằm ngay bánh xe bên trái trục 3 của xe (1) và vết lốp dài 5m, đầu vết lốp cách đầu vết lốp (6) là 3,9m.
Vết kính vỡ (được ký hiệu là 8) xuất hiện trên mặt đường, tâm vết vỡ kính cách mép chuẩn 1,3m và cách đầu vết cày (5) là 7,7m.
Bịch cá (được ký hiệu là 9) xuất hiện trên đường sau tai nạn và cách mép chuẩn 3,2m, cách vết kính bể là 2,7m.
* Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn thể hiện xe ô tô tải biển số 66H-035.89 có các dấu vết:
T chắn bảo vệ bên phải xe, phần đuôi thanh chắn bảo vệ có để lại vết chà kích thước dài 0,14cm, cao 0,57cm;
Tại vỏ lốp thứ 2 bên phải ngoài cùng có 03 vết trầy xước mài mòn cao su hình cong có kích thước chiều dài lần lượt là 14cm, 24cm và 30cm;
Tại vỏ lốp trục thứ 3 bên phải ngoài cùng có vết trầy xước mài mòn cao su hình cong có kích thước chiều dài là 40cm, cao 100cm;
Tại vành xe của lốp trục thứ 3 có vết chà kích thước chiều dài là 10cm.
* Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn thể hiện xe mô tô biển số 81B2-456.87 có các dấu vết:
Tại phần mặt nạ đồng hồ của xe bị bể nát nhiều nơi, phần kính bảo vệ mặt đồng hồ bị bể rời khỏi vị trí ban đầu, bung các khớp nối với phần nắp sau tay lái;
Tại phần nắp sau tay lái bị bể, gãy rời khỏi vị trí ban đầu và bung các khớp nối với chiều dài là 0,26m;
Tại vị trí tay nắm tay lái bên trái có dấu vết mài mòn cao su kích thước 0,04m, chiều cao so với mặt đất là 0,93m;
Đầu tay thắng bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu;
Tại vị trí gương chiếu hậu bên trái có dấu vết bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu;
Tại vị trí bên trái mặt nạ xe có dấu vết trầy xước nhựa màu bạc kích thước dài 0,1m;
Tại vị trí bên trái nắp trước tay lái có dấu vết trầy xước nhựa chiều hướng từ trước về sau, dài 0,12m, chiều cao so với mặt đất 0,1m;
Tại vị trí ốp đèn pha trước bên trái có vết trầy xước nhựa chiều hướng từ trước về sau, dài 0,26m, cao so với mặt đường 0,9m;
Tại vị trí đuôi ốp yếm trước bên trái có vết trầy xước nhựa chiều hướng từ trước về sau dài 0,15m, chiều cao so với mặt đất là 0,75m;
Tại vị trí đầu ốp yếm trước bên trái có vết trầy xước nhựa chiều hướng từ trước về sau, kích thước dài 0,13m;
Tại vị trí tấm ốp cản sau có dấu vết bị bể rời khỏi vị trí ban đầu kích thước chiều dài 0,03m, cao 0,77m;
Tại vị trí gác chân sau bên trái có dấu vết trầy xước kim loại chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước về sau kích thước 0,1m;
Tại vị trí ốp phần dự trữ dung dịch có vết trầy xước nhựa chiều hướng từ trước về sau chiều dài 0,16m;
Tại vị trí đầu chân chống giữa có dấu trầy xước kim loại kích thước 0,04m.
* Tại Kết luận luận giám định số 6772/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . kết luận:
Xe ô tô biển số 66H-035.89 và xe mô tô biển số 81B2-456.87 có va chạm với nhau. Cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết va chạm giữa hai phương tiện: dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải (cung trước chắn bùn trục bánh sau, bánh ngoài trục 2, trục 3) xe ô tô biển số 66H-035.89 có chiều ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô biển số 81B2-456.87 (ốp đầu xe, tay lái, tay phanh, cánh yếm) có chiều từ trái sang phải.
Phía sau bên phải xe ô tô biển số 66H-035.89 và phía trước bên trái xe mô tô biển số 81B2-456.87 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
Khi va chạm, xe ô tô biển số 66H-035.89 có trạng thái chuyển động trên đường T phải hướng ra đường T; xe mô tô biển số 81B2-456.87 có trạng thái chuyển động cùng chiều bên phải.
Ngoài các dấu vết nêu trên không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 66H-035.89 và xe mô tô biển số 81B2-456.87 với vật hay phương tiện khác.
* Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 451/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 09/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Hoàng Thị Mỹ L: Đa chấn thương.
Chấn thương ngực gây gãy xương ức (cán xương ức), gãy xương sườn số 2,3,4,5,6,7 bên trái, gãy xương sườn 2,3,4 bên phải, dập phổi nặng hai bên, rách nhu mô phổi phải phức tạp, xuất huyết dưới nội tâm mạc dẫn đến chảy máu khoang ngực.
Kết hợp chấn thương tay gây gãy 1/3 dưới cánh tay trái.
Không tìm thấy E và M1 trong máu.
Tại cáo trạng số 84/CT-VKSNT ngày 01/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Phạm Phú Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Phú Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị xử phạt bị cáo Đ mức án từ 16 (Mười sáu) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: 01 ô tô biển số 66H-035.89 và 01 xe mô tô biển số 81B2-567.98 cho các chủ sở hữu là đúng theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và ông Nguyễn Ngọc P (chủ xe ô tô BKS 66H-035.89) đã thoả thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 175.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình giống như bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, có thái độ ăn năn, hối cải.
Bị cáo Phạm Phú Đ nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về căn cứ định tội danh và điều luật áp dụng:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các chứng cứ thu thập trong hồ sơ, cũng như biên bản hiện trường sự việc thể hiện: Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 02/10/2023 tại giao lộ đường T và đường nhánh không tên thuộc Khu công nghiệp N, khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Phạm Phú Đ có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô tải biển số 66H-035.89 do thiếu quan sát và chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 81B2-567.98 do bà Hoàng Thị Mỹ L điều khiển lưu thông cùng chiều, gây tai nạn làm bà L tử vong.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Phú Đ đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, làm chết 01 người nên bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo theo tội danh, Điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn giao thông công cộng, là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại về tính mạng và tài sản cho bị hại. Bị cáo điều khiển phương tiện xe ô tô tải (là nguồn nguy hiểm cao độ) nhưng không chú ý quan sát, đảm bảo an toàn khi cho xe chuyển hướng đã gây ra tai nạn, gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được đại điện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân bị cáo thể hiện:
Mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại. Tuy nhiên, xét mức độ lỗi và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 ô tô biển số 66H-035.89 và 01 xe mô tô biển số 81B2-567.98 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N cho các chủ sở hữu là đúng theo quy định nên không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và ông Nguyễn Ngọc P (chủ xe ô tô BKS 66H - 035.89) đã thoả thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 175.000.000. Gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Phạm Phú Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Phú Đ 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:
Buộc bị cáo Phạm Phú Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đại diện gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Quốc Hoàn |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Phú Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
