Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày 27/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đức Chung.

Bà Lê Thị Thanh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.

Từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 5 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh năm 1995 tại Quảng Bình; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi sinh sống: Ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đức H, sinh năm 1968; Con bà Đinh Thị T1, sinh năm 1972; Vợ là chị Đinh Thị Thu H1, sinh năm 1998; Có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/01/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công An huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 29/01/2024, Công an xã B đi tuần tra trên đoạn đường thuộc ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai phát hiện Trần Thanh T đang điều khiển xe mô tô biển số 73D1-188.68 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi xách bằng da T đeo trên người có có 01 gói nylong có kích thước 2,5cm x 03cm được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Trần Thanh T khai nhận là ma túy do T mua về để sử dụng nên đã tiến hành lập biên bản quả tang, thu giữ tang vật và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định Trần Thanh T nghiện ma tuý. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 19 giờ ngày 28/01/2024, T đã dùng diện thoại Samsung màu đen gọi điện thoại cho người đàn ông tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma túy T2 đồng ý và hẹn địa điểm để T đến nhận. Sau đó T điều khiển xe mô tô biển số 73D1-188.68 đi từ lán trại của Công ty H2 thuộc ấp I, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đang thi công dự án Cảng hàng không Quốc tế L đến khu vực C thuộc Phường P, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai, T mua của T2 01 gói ma tuý với giá 400.000 đồng. Sau khi nhận ma tuý, T bỏ vào túi xách bằng da và đeo trước ngực, khi T điều khiển xe mô tô về đến ấp F, xã B, huyện L thì bị phát hiện và lập biên bản quả tang như trên.

Tại Bản kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,7974 gam loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7177gam.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

  • + 01 gói mẫu vật sau giám định số 299/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • + Xe mô tô mang biển số 73D1-188.68
  • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

Tại cáo trạng số 114/CT-VKS-LT ngày 23 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

  • - Về hình phat: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 16 đến 18 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã được niêm phong được hoàn lại sau khi giám định số 299/KL- KTHS ngày 05/02/2024. Tịch thu sung công quỹ nhà nước điện thoại di động hiệu S màu đen.
  • - Xe mô tô biển số 73D1-188.68 do chưa xác định được chử sở hữu nên đề nghị giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo T có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:

Trần Thanh T là người nghiện ma túy. Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 29/01/2024 lực lương Công an xã B đi tuần tra phát hiện T có hành vi cất giấu 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,7974 gam trong túi da đeo trên người nên đã lập biên bản quả tang, T khai đi mua về sử dụng nên đã có đủ chứng

cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Thanh T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy, ảnh hưởng sức khỏe con người, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế và sự phát triển của chính bản thân và gia đình bị cáo nhưng vẫn mua ma túy về cất giấu để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng: Phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 299/KL- KTHS ngày 05/02/2024 không được phép sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số: 73D1-188.68 do chưa xác định được chử sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[7] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên T2 bán ma túy cho bị cáo T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Thanh T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 299/KL- KTHS ngày 05/02/2024).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước điện thoại Samsung màu đen.

(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theo Quyết định chuyển vật chứng số 77/QĐ-VKSLT ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/4/2024).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo Trần Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND ND tỉnhi;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND H. Long Thành;
  • - THADS H. Long Thành;
  • - CA huyện Long Thành;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND xã nơi bị cáo thường trú, sinh sống;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phụng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger