TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 120/2023/HS-ST Ngày 26 - 12 - 2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Kiêm;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Anh V, sinh năm 1987; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ ba; vợ là Trần Thị N, sinh năm 1983 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 15/6/2023, bị Chủ tịch UBND thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản".
Nhân thân: Ngày 31/7/2018, bị Công an huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp xong tiền phạt ngày 02/8/2018. Ngày 10/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2019.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
- Bị hại:
- Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; văng mặt.
- Chị Bùi Thị Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Đình G, sinh năm 1976 và chị Vũ Thị H2, sinh năm 1986; cùng địa chỉ: Xóm D, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Quốc C1, sinh năm 1956; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu nên Phạm Anh V nảy sinh ý định đến địa bàn huyện H trộm cắp tài sản. Từ ngày 21/6/2023 đến ngày 10/7/2023, Phạm Anh V đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 21/6/2023, Phạm Anh V một mình điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18D1 - 043.71 từ nhà đến thị trấn T, huyện H mục đích tìm nhà dân sở hở để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực Tổ dân phố số A, thị trấn T, phát hiện cạnh trục đường di chuyển có 02 ngôi nhà liền kề của chị Nguyễn Thị H1 và chị Bùi Thị Đ thấy cửa tầng 2 nhà chị H1 mở nên V đi qua nhà chị H1 khoảng 100 mét rồi dừng lại dựng xe ở lề đường và đi bộ quay lại trèo lên tường bao có phần lan can hiên trước nhà chị Đ để trèo lên ban công tầng 2, thấy cửa nhà chị Đào đ, V tiếp tục trèo sang lan can nhà chị H1 rồi xuống ban công tầng 2 thì thấy cửa ban công nhà chị H1 mở. V đi vào trong phòng phát hiện 01 thùng máy tính bên trong gắn các linh kiện gồm: Main MSI B365M, ram Kingston 8GB, CPU Intel core I3 9100F, Card đồ họa A 1030 2GB, nguồn X - Power III 450, ổ cứng SSD 128GB và ổ cứng HDD 1TB đã qua sử dụng kê sát tường phía Đông. Văn tháo các dây kết nối với thùng máy tính rồi bê ra ban công. Sau đó đi xuống tầng 1 thấy chị H1 đang ngủ trong phòng có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đang sạc pin để đầu giường. V rút sạc lấy điện thoại cất giấu vào túi quần phía trước bên trái rồi đi ra phòng khách, phát hiện trên kệ để giầy dép ở bên trái cửa ra vào có 01 chiếc cặp học sinh, Văn mở cặp bên trong có 01 chiếc Ipad thế hệ 8 màu trắng, tình trạng nứt kính màn hình, đã qua sử dụng, Văn tháo vỏ ốp nhựa của chiếc Ipad và mang chiếc Ipad lên tầng 2 để ngoài ban công. Tại đây Văn tháo phần lắp kính của thùng máy tính bỏ chiếc Ipad, chiếc điện thoại trên vào trong thùng sau đó cởi áo chống nắng đang mặc trên người, lấy phần ống tay buộc vào thùng máy tính thả chiếc thùng máy tính xuống phần bệ trồng cây cảnh nhà chị H1. Sau đó V di chuyển đến bệ trồng cây cảnh để lấy thùng máy tính đưa sang ban công nhà chị Đ, khi đang di chuyển thì thùng máy tính rơi xuống nền ban công. Văn tháo áo ra khỏi thùng máy tính mặc vào người và kiểm tra cửa ban công tầng 2 nhà chị Đ thấy cửa đóng không khóa, V mở cửa vào trong nhà không phát hiện có tài sản gì. Văn đi xuống tầng 1 phát hiện trên mặt bàn uống nước ở phòng khách có 01 chiếc laptop nhãn hiệu Acer Aspire 5 A515-56-76J1 màu đen, 01 chiếc cặp đựng laptop màu đen để trên mặt ghế, bên trong cặp có 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Diamond D, dây da, màu trắng và 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Aries Gold, dây kim loại, màu trắng. V cầm chiếc laptop cho vào trong cặp và xách đi lên tầng 2, thấy lan can cầu thang treo 01 chiếc áo chống nắng, lục soát các túi áo nhưng không có tài sản gì V cầm chiếc áo đi lên tầng 2 ra ban công, sử dụng chiếc áo chống nắng lấy được buộc phần tay áo vào thùng máy tính và cầm phần vải của áo thả xuống đất. Văn tháo áo chống nắng ra mặc bên ngoài sau đó xách thùng máy tính, chiếc cặp đựng laptop đi bộ ra vị trí dựng xe mô tô rồi điều khiển xe về huyện N. Trên đường đi qua một cây cầu (không nhớ địa điểm cụ thể), Văn cởi áo chống nắng, bỏ chiếc laptop cho vào trong thùng máy tính rồi ném chiếc cặp đen có 02 chiếc đồng hồ và chiếc áo chống nắng nữ xuống sông. Số tài sản còn lại trong thùng máy tính Văn mang về cất giấu tại nghĩa trang xã N, huyện N. Khoảng 02 ngày sau, V mang chiếc laptop, chiếc Ipad, điện thoại và thùng máy tính đi đến thành phố N, tỉnh Ninh Bình để tìm chỗ tiêu thụ. Trên đường Đ và bán cho 01 người phụ nữ khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ đang đi thu mua đồng nát 01 chiếc điện thoại OPPO với giá 1.200.000 đồng; chiếc laptop và chiếc thùng máy tính mỗi cái 1.000.000 đồng, chiếc Ipad là 800.000 đồng. Tổng số tiền Văn bán được 4.000.000 đồng và đã ăn tiêu hết.
Vụ thứ hai: Khoảng tháng 06 năm 2023, Phạm Anh V đến bán phế liệu cho anh Đỗ Văn H ở xóm T, xã H, huyện H. V thấy phòng khách nhà anh H treo một chiếc đồng hồ Côn trên tường nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 05/7/2023, V điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18D1 - 043.71 đi từ nhà đến nhà anh H thì thấy nhà anh H khóa cửa, khóa cổng và tắt điện đi ngủ. V dựng xe ở sân trước nhà bên cạnh sau đó đi đến phía tường bao phía Nam nhà anh H trèo lên mái tôn ra phía trước nhà, thấy cửa lách phía Nam nhà anh H đang mở nên đã vào trong phòng khách đến vị trí treo chiếc đồng hồ Côn cách mặt đất khoảng 1,5 mét rồi bước lên ghế dùng hai tay đẩy dưới đáy chiếc đồng hồ lên nhấc xuống và bê theo lối vào để ra ngoài. Khi đứng trên mái tôn, Văn thả chiếc đồng hồ rơi tự do xuống đất làm chiếc đồng hồ bị nứt vỡ và để chiếc đồng hồ ở giá để hàng giữa xe mô tô rồi điều khiển xe về nghĩa trang xã N cất giấu. Ngày 06/7/2023, V đưa chiếc đồng hồ về nhà lau chùi, tháo phần máy ra khỏi vỏ thì không thấy đồng hồ chạy. Đến ngày 08/7/2023 V đến cửa hàng mua bán sửa chữa đồng hồ Giang H3 ở Đ, thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định do vợ chồng chị Vũ Thị H2 và anh Phạm Đình G làm chủ để sửa chữa. Khoảng 10 ngày sau, chị H2 gọi điện cho V thông báo đã sửa xong đồng hồ bảo V đến lấy nhưng V nói lý do đang đau tay chưa đi được. Khoảng 12 giờ ngày 14/8/2023, V gọi điện thoại cho chị H2 đặt vấn đề muốn bán chiếc đồng hồ, chị H2 đã đồng ý mua với giá 18.000.000 đồng và chuyển khoản số tiền trên cho V.
Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ 00 ngày 10/7/2023, Phạm Anh V một mình điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 18D1-043.71 đi từ nhà sang thị trấn T, huyện H. Khi đến khu vực đường D, thị trấn T, V phát hiện 03 hộ dân nằm liền kề nhau, từ Tây sang Đ lần lượt là nhà chị Nguyễn Thị L, nhà ông Nguyễn Văn C2, nhà chị Nguyễn Thị T đều trú tại Tổ dân phố số A, thị trấn T. Văn dựng xe và đi bộ men theo bãi đất trống vòng ra phía sau thấy 03 nhà thông với nhau thì cửa sau nhà chị T mở, V đi vào tầng 1 rồi theo cầu thang lên tầng 2 phát hiện trên giường phòng ngủ có 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng nên cầm chiếc điện thoại cho vào túi quần phía trước bên trái rồi đi xuống tầng 1 đi ra sân trước. Thấy cửa chính nhà chị L mở, V đi vào phòng khách phát hiện trên tủ kệ tivi đặt 01 đồng hồ Côn để bàn nhãn hiệu Hamilton, vỏ bằng gỗ hình hộp màu nâu, kích thước (26x14x30)cm. V dùng hai tay bê chiếc đồng hồ đi ra lối cửa chính theo đường cũ ra phía sau nhà rồi lên xe tẩu thoát về nghĩa trang xã N cất giấu. Sáng ngày 10/7/2023, V sang thành phố N, tỉnh Ninh Bình gặp và bán chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông khoảng 25 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 1.300.000 đồng và sử dụng ăn tiêu hết. Sau đó V mang chiếc đồng hồ côn đến sửa tại cửa hàng S do ông Nguyễn Quốc C1; trú tại xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định làm chủ để sửa chữa.
Ngày 19/8/2023, Phạm Anh V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú và giao nộp số tiền 18.000.000 đồng do V bán chiếc đồng hồ Côn trộm cắp tại nhà anh Nguyễn Văn H4. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Phạm Anh V 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18D1-043.71. Thu giữ của chị Vũ Thị H2 01 chiếc đồng hồ Côn nhãn hiệu ODO 57 máy 10, vỏ bằng gỗ màu nâu kích thước (56x59x17) cm và của ông Nguyễn Quốc C1 01 chiếc đồng hồ Côn nhãn hiệu Hamilton, vỏ bằng gỗ hình hộp màu nâu, kích thước (26x14x30)cm. Ngày 30/10/2023, bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ của Phạm Anh Văn tự n giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường cho chị Vũ Thị H2 thay cho bị cáo.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐG ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 (một) chiếc đồng hồ Côn nhãn hiệu ODO 57 máy 10, vỏ bằng gỗ màu nâu kích thước (56x59x17)cm bị nứt vỡ phần gỗ mặt trước, hỏng cót, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 35.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐG ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 thùng máy tính bên trong gắn các linh kiện gồm: Main MSI B365M, ram Kingston 8GB, CPU Intel core I3 9100F, card đồ họa Asus 1030 2GB, nguồn X – Power III 450, ổ cứng SSD 128GB và ổ cứng HDD 1TB, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 2.000.000 đồng; 01 Ipad thế hệ thứ 8, màu trắng, tình trạng nứt kính màn hình, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 4.000.000 đồng; 01 laptop nhãn hiệu Acer Aspire 5 A515-56-76J1 màu đen, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 5.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Diamond D, dây da, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 2.500.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Aries Gold, dây kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 2.000.000 đồng; 01 áo chống nắng nữ tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 50.000 đồng; 01 đồng hồ Côn để bàn nhãn hiệu Hamilton, vỏ bằng gỗ hình hộp màu nâu, kích thước (26x14x30)cm, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá giá trên thị trường là 6.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 29.050.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc đồng hồ Côn cho anh Đỗ Văn H và chiếc đồng hồ C3 để bàn cho chị Nguyễn Thị L. Sau khi nhận lại tài sản, anh H và chị L không đề nghị gì thêm về phần dân sự. Còn lại những tài sản khác bị cáo đã bán và ném xuống sông, không thu hồi được. Chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.500.000 đồng; chị Bùi Thị Đ yêu cầu bồi thường số tiền 9.550.000 đồng; chị Nguyễn Thị T yêu cầu bồi thường số tiền 6.000.000 đồng theo giá trị tài sản định giá.
Chị Vũ Thị H2 và anh Phạm Đình G đã giao nộp lại chiếc đồng hồ Côn mua của Phạm Anh V và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã bỏ ra mua tài sản 18.000.000 đồng và công sửa chữa 3.000.000 đồng, tổng cộng là 21.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra bị cáo và gia đình bị cáo đã nộp số tiền 21.000.000 đồng để trả cho chị H2, hiện số tiền trên đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
Cáo trạng số: 119/CT-VKS-HH ngày 28/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Phạm Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Phạm Anh V từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo, kinh tế khó khăn. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Nguyễn Thị H1 10.500.000 đồng, chị Bùi Thị Đ 9.550.000 đồng và chị Nguyễn Thị T 6.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Trả cho anh Phạm Đình G và chị Vũ Thị Hằng s tiền 21.000.000 đồng đã thu giữ; trả chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18D1-043.71 cho bà Nguyễn Thị C. Truy thu số tiền 5.300.000 đồng bị cáo có được do bán tài sản trộm cắp để sung ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo nộp án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận đã phạm tội, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị hại ông Đỗ Văn H xác nhận đã bị mất trộm chiếc đồng hồ Côn ngày 05/7/2023, đến nay đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Đình G, chị Nguyễn Thị C không tranh luận gì và có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 21.000.000 đồng đã mua và tiền công sửa chữa đồng hồ Côn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C không có ý kiến tranh luận, xin được nhận lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18D1-043.71.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo có thái độ ăn năn hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội phấn đấu sửa chữa lỗi lầm, sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Trong các ngày 21/6/2023, 05/7/2023 và 10/7/2023, Phạm Anh V đi đến địa bàn thị trấn T và xã H thuộc huyện H, tỉnh Nam Định với mục đích trộm cắp tài sản. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở chủ sở hữu không khóa cửa phòng, đêm khuy vắng người đã đột nhập lén lút chiếm đoạt tài sản của: Anh Đỗ Văn H 01 chiếc đồng hồ Côn nhãn hiệu ODO 57 trị giá 35.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị H1 01 thùng máy tính, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu xanh, 01 Ipad thế hệ thứ 8 màu trắng có tổng trị giá 10.500.000 đồng. Chị Bùi Thị Đ 01 laptop Acer màu đen, 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Diamond D, 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Aries Gold, 01 áo chống nắng nữ có tổng trị giá 9.550.000 đồng. Chị Nguyễn Thị L 01 đồng hồ Côn để bàn nhãn hiệu Hamilton trị giá 3.000.000 đồng và của chị Nguyễn Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng trị giá 6.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Phạm Anh V đã chiếm đoạt là 64.050.000 đồng (Sáu mươi tư triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) ...
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.
[3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự công cộng; ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền ăn tiêu cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo đã từng bị Toà án kết án phạt tù, hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”, 01 lần bị Tòa án kết án phạt tù và 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản nên có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi; bị cáo và gia đình đã tự nguyện nộp lại một phần tiền bán tài sản chiếm đoạt để trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; sau khi tội phạm bị phát hiện đã tự giác ra đầu thú; hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, kinh tế khó khăn; tại phiên tòa được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã 03 lần trộm cắp tài sản vào các ngày 21/6/2023, 05/7/2023 và 10/7/2023, các lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, có con nhỏ đang phải nuôi dưỡng, hoàn cảnh gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc đồng hồ Côn ODO 57 cho anh Đỗ Văn H và chiếc đồng hồ Côn để bàn cho chị Nguyễn Thị L. Sau khi nhận lại tài sản, anh H và chị L không đề nghị gì về phần dân sự nên không xem xét.
Đối với các tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H1, chị Bùi Thị Đ và chị Nguyễn Thị T do bị cáo đã bán và ném xuống sông, không thu hồi được nên chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.500.000 đồng, chị Bùi Thị Đ yêu cầu bồi thường số tiền 9.550.000 đồng,chị Nguyễn Thị T yêu cầu bồi thường số tiền 6.000.000 đồng theo giá trị định giá tài sản là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 585, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự. Do đó cần buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại trên.
Ông Nguyễn Quốc C1 là người được bị cáo nhờ sửa chữa 01 chiếc đồng hồ Côn nhãn hiệu Hamilton, vỏ bằng gỗ hình hộp màu nâu, kích thước (26x14x30)cm do bị cáo trộm cắp của chị Nguyễn Thị L. Ông C1 đã giao nộp lại chiếc đồng hồ Côn trên cho Cơ quan điều tra và không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 300.000 đồng là công sửa chữa nên không đặt ra xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Chị Vũ Thị H2 và anh Phạm Đình G đã giao nộp lại chiếc đồng hồ Côn mua của bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã bỏ ra mua tài sản 18.000.000 đồng và công sửa chữa dồng hồ 3.000.000 đồng, tổng cộng là 21.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra bị cáo và gia đình bị cáo đã nộp số tiền 21.000.000 đồng để trả cho chị H2, hiện số tiền trên đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tại phiên tòa bị cáo cũng nhất trí trả số tiền trên nên cần trả lại cho anh G, chị H2 là phù hợp pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18D1 – 043.71 do bị cáo đã sử dụng đi trộm cắp tài sản đã bị thu giữ. Trong quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ bị cáo, do bà C không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà C quản lý, sử dụng là phù hợp pháp luật.
[9] Về các vấn đề khác: Vợ chồng chị Vũ Thị H2, anh Phạm Đình G sửa chữa, mua chiếc đồng hồ côn ODO 57 và ông Nguyễn Quốc C1 sửa chữa đồng hồ Côn để bàn cho bị cáo Phạm Anh V nhưng không được bị cáo bàn bạc, hứa hẹn từ trước và không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H2, anh G và ông C1 là đúng pháp luật.
Đối với những người đã mua điện thoại, thùng máy tính, Ipad của bị cáo vào ngày 21/6/2023 và ngày 10/7/2023 tại khu vực thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhưng bị cáo không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Phạm Anh V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 08 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Phạm Anh V phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng); cho chị Bùi Thị Đ số tiền 9.550.000₫ (Chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và cho chị Nguyễn Thị T số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng). Tổng cộng là 26.050.000₫ (Hai mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả cho anh Phạm Đình G và chị Vũ Thị Hằng s tiền 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001900 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
Trả cho bà Nguyễn Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18D1-043.71.
Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Phạm Anh V phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.302.500đ (Một triệu ba trăm linh hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Trung Kiên |
Bản án số 120/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 120/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh V - Trộm cắp tài sản
