|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/DS-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Hoàng Tân.
Ông Đặng Văn Phúc.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST – DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số A ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Ông Trần Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 10/7/2023.
Bị đơn: Bà Hồ Kim P, sinh năm 1970 (Vắng mặt);
Ông Huỳnh Văn P1, sinh năm 1971 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số B ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 14/3/2024, ngày 25/7/2024 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày:
Đối với phần nợ hụi, bà Hồ Kim P có tham gia dây hụi khui ngày 30/5/2022 do ông làm chủ hụi. Dây hụi gồm 22 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 03 tháng hụi sống. Đến ngày 30/8/2022, bà P hốt hụi, khi hốt hụi bà P còn nợ ông 18 tháng hụi chết. Ngày 30/3/2024 dây hụi đã mãn, bà P đã đóng được 34.000.000 đồng và còn nợ lại ông số tiền 21.000.000 đồng.
Đối với phần nợ vay, bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 có nhiều lần vay tiền của ông. Ngày 13/10/2023, giữa ông và bà P có lập biên nhận chốt số tiền vay còn nợ là 71.000.000 đồng. Trong đó, số tiền nợ vay ban đầu là 76.000.000 đồng và bà P đã trả cho ông số tiền 5.000.000 đồng.
Như vậy, theo giấy xác nhận nợ đề ngày 13/10/2023, tổng cộng số tiền nợ hụi và nợ vay là: 92.000.000 đồng. Mục đích của việc bà P chơi hụi và vay tiền là để lo kinh tế gia đình. Kể từ ngày 13/10/2023 cho đến nay, ông đã nhiều yêu cầu bà P và ông P1 liên đới trả số tiền còn nợ nêu trên cho ông nhưng bà P, ông P1 vẫn không thực hiện.
Vì vậy, ông H khởi kiện yêu cầu bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền là: 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.
*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tổng đạt hợp lệ cho bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 các văn bản tố tụng nhưng bà P và ông P1 vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1.
*Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri có ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 468, 469, 471 BLDS, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H, buộc bị đơn bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Trần Văn H số tiền 92.000.000 đồng, ghi nhận nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo biên bản xác minh đề ngày 19/6/2024 của Công an xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre xác nhận bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 có đăng ký thường trú và hiện còn đang sinh sống tại địa chỉ 222/XS ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (Bút lục 30). Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu bà Hồ Kim P cùng chồng là ông Huỳnh Văn P1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Hợp số tiền nợ hụi và nợ vay là 92.000.000 đồng. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 471, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Ông Trần Văn H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt đề ngày 20/6/2024 (Bút lục số 34). Bị đơn bà Hồ Kim P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng bà P và ông P1 vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông H, bà P, ông P1 là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
[4]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H yêu cầu bà Hồ Kim P trả số tiền nợ hụi và nợ vay còn thiếu là 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng) và không tính lãi suất.
Xét chứng cứ mà ông H cung cấp là 01 tờ giấy chốt nợ đề ngày 13 tháng 10 năm 2023 (bút lục 35).
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời khai của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như chứng cứ nguyên đơn cung cấp là giấy chốt nợ đề ngày 13 tháng 10 năm 2023 (giấy viết tay) với nội dung “.......cộng lại 2 phần chị P còn thiếu em Hợp số tiền là 92.000.000 đồng.....”. Phía dưới giấy chốt nợ có dòng chữ “Kí tên”, chữ ký và chữ viết “Hồ Kim P”. Xét thấy, việc nguyên đơn cho bị đơn vay tiền và bị đơn tham gia chơi hụi do nguyên đơn là chủ hụi là có căn cứ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ tất cả văn bản tố tụng, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp được thể hiện trong Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ số 85/2024/TB-TA ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri nhưng phía bị đơn không có ý kiến cũng không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh là vi phạm nghĩa vụ chứng minh theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đồng thời, bà P vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều đó đồng nghĩa với việc bà P mặc nhiên thừa nhận nợ. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Hồ Kim P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ vay và nợ hụi là 92.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về lãi suất: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn H không yêu cầu trả lãi suất đối với số tiền bà Hồ Kim P còn nợ, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6]. Xét yêu cầu buộc ông Huỳnh Văn P1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ:
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông P1 thể hiện ông bà có đăng ký kết hôn vào năm 2013 nên bà P và ông P1 là vợ chồng hợp pháp, hiện vẫn sống và sinh hoạt chung gia đình với nhau, cùng làm ăn kinh tế chung tại địa phương. Do đó nợ chung này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, nên buộc ông P1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 27, 30, khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri về quan điểm giải quyết vụ án: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8]. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 471, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 27, 30, khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 23 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi và Hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn H số tiền nợ hụi và nợ vay là 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng). Trong đó: Tiền nợ hụi: 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), nợ vay: 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn H không yêu cầu bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 trả lãi suất của số tiền nêu trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- - Bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).
- - Hoàn trả cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp 2.300.000 (Hai triệu ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004040 ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 120/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 120/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi và Hợp đồng vay tài sản”. 2. Buộc bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn H số tiền nợ hụi và nợ vay là 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng). Trong đó: Tiền nợ hụi: 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), nợ vay: 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. 3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn H không yêu cầu bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 trả lãi suất của số tiền nêu trên. 4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: - Bà Hồ Kim P và ông Huỳnh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). - Hoàn trả cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp 2.300.000 (Hai triệu ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004040 ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
