|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 23-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Thế;
- Ông Tẩn Cao Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 05/12/1994, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vàng Văn C, đã chết; mẹ đẻ: Lò Thị T1, sinh năm 1970; vợ: Hù Thị L, sinh năm 1996; bị cáo có 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Hàng A N, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản C, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 20/5/2024, Vàng Văn T đi bộ từ nhà ra đến bản Hợp 1, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, T mua được 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể, mục đích mua về để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Mua được H1, T mang về nhà cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít, số Heroine còn lại T cất giấu không cho ai biết. Khoảng 15 giờ, ngày 21/5/2024, khi Vàng Văn T đang ở nhà cùng với Vàng Văn T3, sinh năm 2000, là em trai ruột của T và Lý Văn H2, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu thì Hàng A N và Hồ Văn T2 đến gọi. Do T và H2 đang chơi game nên Thân bảo T3 ra mở cửa. T3 mở cửa cho N và T2 vào nhà rồi T3 quay vào giường nằm. Tại phòng khách nhà T, N và T2 hỏi mua Heroine của T. Thân nói chỉ còn ít nên chỉ bán cho N. Thân nhận 100.000 đồng của N rồi lấy gói Heroine bán cho N. Mua được H1, N và T2 tự ý sử dụng trong phòng khách nhà T, không hỏi ý kiến Thân. Thân nhìn thấy nhưng để mặc cho N và T2 sử dụng. Hồi 15 giờ 30 phút, cùng ngày 21/5/2024, khi N, T2 đang sử dụng trái phép Heroine trong nhà T tại bản Nà Cúng, xã B, huyện P thì bị tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 chiếc bật lửa ga màu xanh; 02 mảnh giấy bạc đốt cháy. Vàng Văn T khai nhận số tiền 100.000 đồng là tiền do T bán Heroine cho N mà có. Quá trình điều tra xác định: Ngôi nhà Vàng Văn T đang ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của Vàng Văn T và các anh, em là Vàng Văn M, Vàng Văn T3.
Bản Kết luận giám định số: 595/KL-KTHS, ngày 23/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKS, ngày 05 tháng 9 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 điều 256 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và khoản 1 điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 1, khoản 3 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn T từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình của bị cáo về hai tội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, b khoản 1
trái phép Heroine mà có. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối đáp với đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt, Kiểm sát viên trình bày căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên giữ nguyên quan điểm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện về nhân thân, nguyên nhân phạm tội của bị cáo; áp dụng khoản 1 Điều 251 và khoản 1 điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình, xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp nhất của khung hình phạt đối với cả hai tội. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Vàng Văn T đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 15 giờ, ngày 21/5/2024, tại nơi ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của mình thuộc bản Nà Cúng, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn T đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Hàng A Nhà lấy số tiền 100.000 đồng. Sau khi bán Heroine, Vàng Văn T để mặc cho Hàng A N và Hồ Văn T2 sử dụng trái phép chất ma tuý trong nhà mình. Vào hồi 15 giờ 30 phút, cùng ngày 21/5/2024, khi N và T2 đang sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Vàng Văn T thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh L bắt quả tang.
H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi bán trái phép Heroine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251. Hành vi để mặc cho 02 người sử dụng trái phép Heroine tại nơi ở của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” khoản 1 điều 256 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 điều 256 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc ma tuý, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Hàng A N và Hồ Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, N và T2 đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Đối với Vàng Văn T3 và Vàng Văn M: T3 là người đã mở cửa cho N và T2 vào nhà, sau đó N mua Heroine của bị cáo T để sử dụng. Quá trình điều tra xác định, T3 không biết việc T bán Heroine cho N và T2, không biết việc N và T2 sử dụng Heroine trong nhà mình. Vàng Văn M có chung quyền sở hữu nhà với bị cáo T nhưng khi N và T2 sử dụng trái phép chất ma túy, M không có mặt ở nhà nên không biết. Vì vậy, T3, M không đồng phạm với T trong vụ án này.
Đối với Lý Văn H2: Khi bị cáo T bán Heroine cho N, T2 thì H2 mải chơi game nên không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với H2 về hành vi không tố giác tội phạm. Việc H2 nhìn thấy N và T2 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của T, do H2 không có quyền quản lý, sử dụng đối với ngôi nhà này nên H2 không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng, gồm: Số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 02 chiếc bật lửa ga, 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và vỏ niêm phong, đều là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, khoản 1 điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
- Bị cáo Vàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 256 của Bộ luật Hình sự.
- Xử lý vật chứng:
- Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Vàng Văn T: 02 (Hai) năm, 04 (Bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm, 04 (Bốn) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt: 04 (Bốn) năm, 08 (Tám) tháng tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 21/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng đã thu của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa màu xanh, 01 chiếc bật lửa màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và vỏ niêm phong.
(Các vật chứng khác hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
phân bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ TPCMT
