|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS-PT Ngày: 31-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Nguyễn Văn Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 111/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T cùng đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao lãnh.
Tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án.
Tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) gồm có:
1. Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn T (Thái C), sinh năm 1991, tại Hậu Giang; Nơi cư trú: Tổ G, khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn M và bà Phùng Thị Ú; Có vợ tên Lê Nguyễn Tường V, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2009;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 31/12/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 03/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2020.
Bắt, tạm giữ ngày 14/8/2023, tạm giam ngày 17/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Quang V1 (N), sinh năm 1994, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn M1 (chết) và bà Nguyễn Thị Kim H; sống chung như vợ chồng với Lê Thị Như Ý, sinh năm 2000, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bắt, tạm giữ ngày 03/8/2023, tạm giam ngày 09/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Những người tham gia tố tụng khác:
2.1 Nguyễn Tấn T1 – Binh nhì.
2.2 Trương Hoài N1 – Binh nhì.
Đều là cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại điểm cầu thành phần).
Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 12 giờ ngày 03/8/2023, Nguyễn Văn H1 gọi điện thoại cho Nguyễn Quang V1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. V1 đồng ý bán và hẹn giao dịch tại nhà của V1 tại tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Một lúc sau, H1 đến nhà của V1 đưa cho V1 570.000 đồng, trong đó số tiền 300.000 đồng H1 trả tiền mua ma túy còn 270.000 đồng H1 nhờ V1 đưa lại cho Trần Văn T do H1 thiếu tiền T trước đó. V1 giao lại cho H1 một đoạn ống hút hàn kín, bên trong có chứa ma túy đá. H1 cất ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô, loại Wave, biển số 66P1-974.60 về nhà. Do có hẹn từ trước nên Lê Hoài K đến nhà H1 để xăm mình cho H1. Lúc này, H1 rủ K cùng sử dụng ma túy và điều khiển xe mô tô chở K đến
nhà nghỉ B, địa chỉ số E, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Đ kết hợp Công an thành phố C và Công an phường M phát hiện, bắt quả tang H1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình khám xét H1 tự nguyện giao nộp: Trong túi quần bên phải một đoạn ống hút hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, đã tiến hành niêm phong trong phong bì, dán kín lại, ghi ký hiệu A.
Tiến hành tạm giữ đồ vật:
- 01 (một) nỏ thủy tinh, dùng sử dụng ma túy;
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, màu đen, sim: 0799687801 là của H1 sử dụng cho việc mua ma túy;
- 01 (một) xe mô tô, loại WAVE, màu đen, biển số: 66P1 – 974.60 là tài sản cá nhân của bà Trần Thị K1 (bà K1 là mẹ của H1), sinh năm 1960, ngụ Tổ D, ấp T, xã T, thành phố C. Bà Trần Thị K1 không biết việc bị cáo Nguyễn Văn H1 mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe cho bà K1 xong.
- Tiền Việt Nam: 1.100.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Văn H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đã trả lại cho bị cáo H1 xong.
Tại Bản kết luận giám định số: 827/KL-KTHS, ngày 06/8/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một đoạn ống hút trong suốt, sọc trắng, hàn kín hai đầu, được niêm phong trong phong bì có dán giấy niêm phong, ghi ký hiệu A gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,161 gam, loại Methamphetamine.
Trên cơ sở lời khai của H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Quang V1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, qua khám xét trên người V1 tạm giữ những đồ vật sau:
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen-bạc, đã qua sử dụng;
- Tiền Việt Nam: 1.170.000 đồng (trong đó 900.000 đồng là tiền V1 bán ma túy mà có, 270.000 đồng là tiền H1 trả cho T);
Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Quang V1, tại: Số B, Tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, phát hiện và tạm giữ những đồ vật sau:
- Bên trong phòng ngủ của V1 có một hộp giấy màu vàng, ghi dòng chữ “Viettel”, bên trong hộp giấy này có:
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cuộn băng keo màu xanh, đã qua sử dụng;
- 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng;
- 01 (một) bịch nylon dạng nắp kẹp, viền đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (V1 khai nhận là ma túy của V1) đã tiến hành cho vào phong bì niêm phong, ghi ký hiệu 01, ngày 03/8/2023.
- 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu vàng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng;
- 01 (một) chai nhựa, không có nắp, được gắn trên một cái đế bằng gỗ màu hồng (V1 khai nhận là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy của V1);
- Trên mái tôn che lại bằng các tấm nylon trong khu vực nhà bếp, phát hiện và tạm giữ một bịch nylon, có dòng chữ “Khẩu Trang Cao Cấp – Bông Sen Vàng”, bên trong bịch nylon này có dụng cụ phục vụ việc bán ma túy:
- 01 (một) cân điện tử màu bạc, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cân điện tử màu đen-bạc, đã qua sử dụng;
Tại Bản kết luận giám định số: 828/KL-KTHS, ngày 06/8/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một túi nylon dạng nắp kẹp một đầu, có viền màu đỏ, được niêm phong trong phong bì có dán giấy niêm phong, ghi ký hiệu số 01 gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,542 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định được từ tháng 6 năm 2023 đến ngày 02/8/2023, Nguyễn Quang V1 đã 07 khác lần bán trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất đến lần thứ ba: Vào tháng 6/2023, không xác định ngày cụ thể, Nguyễn Hoài T2 (K) gọi điện thoại cho V1 hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. V1 đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà của V1. V1 lấy bịch ma túy mua của Trần Văn T trước đó, chiết một lượng ma túy tương đương 200.000 đồng cho vào đoạn ống hút, hàn kín lại. Khi T2 đến nhà của V1 đưa cho V1 200.000 đồng, V1 giao lại cho T2 một đoạn ống hút hàn kín, bên trong có chứa ma túy. Mua được ma túy, T2 về
nhà một mình sử dụng hết. Số tiền bán ma túy có được, V1 đã một mình tiêu xài hết. Cũng với phương thức liên lạc và thủ đoạn như trên V1 đã bán ma túy cho T2 02 lần nữa vào các ngày 31/7/2023 và 01/8/2023, với số tiền 400.000 đồng và T2 về nhà một mình sử dụng hết.
Lần thứ tư đến lần thứ sáu: V1 đã bán ma túy đá cho Bùi Thanh X để sử dụng 03 lần khác vào các ngày 15/7/2023, 27/7/2023 và 02/8/2023 số tiền mỗi lần 200.000 đồng, tổng cộng 600.000 đồng.
Lần thứ bảy: V1 bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 vào ngày 18/7/2023 số tiền 200.000 đồng. Mua được ma túy, H1 về nhà một mình sử dụng hết.
Như vậy, Nguyễn Quang V1 đã 08 lần bán ma túy với số tiền thu lợi bất chính là 1.700.000 đồng, V1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra V1 khai nhận, số ma túy bán cho H1 bị thu giữ qua giám định là 0,161 gam, loại Methamphetamine và số ma túy thu giữ qua khám xét tại nhà V1, có khối lượng 0,542 gam, loại Methamphetamine là mua từ Trần Văn T về bán lại kiếm lời. Trên cơ sở lời khai của V1, ngày 14/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Qua đấu tranh T khai mua ma túy của một người không rõ họ tên, địa chỉ ở Thành phố Hồ Chí Minh và T đã thừa nhận 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Quang V1, hưởng lợi 1.800.000 đồng, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào một ngày trong tháng 6 năm 2023, Nguyễn Quang V1 gọi điện thoại cho Trần Văn T hỏi mua ma túy đá của T với số tiền 600.000 đồng. T đồng ý bán và hẹn giao dịch tại nhà của T thuộc Tổ G, Khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, V1 một mình điều khiển xe mô tô đến trước cửa nhà của T. Tại đây, V1 trực tiếp đưa cho T số tiền 600.000 đồng, T nhận đủ tiền rồi giao lại cho V1 một bịch ma túy đá. V1 đem số ma túy về nhà và chiết ra bán hết cho Bùi Thanh X, Nguyễn Hoài T2 và Nguyễn Văn H1. Đối với số tiền 600.000 đồng có được do bán ma túy cho V1 lần này, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Vào khoảng hơn 14 giờ, ngày 31/7/2023, V1 gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy với số tiền 1.200.000 đồng, T đồng ý. V1 đề nghị chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của T, số tiền 200.000 đồng còn lại sẽ đưa trực tiếp cho T khi nhận ma túy, T đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà của T. Sau
đó, V1 sử dụng tài khoản Ngân hàng S, số G, tên “NGUYEN QUANG VINH” chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Q (M2), số 0769353329, tên “TRAN VAN THAI”. V1 một mình điều khiển xe mô tô (không xác định được đặc điểm xe) đến trước cửa nhà của T. Tại đây, V1 trực tiếp đưa cho T số tiền 200.000 đồng, T nhận đủ tiền rồi giao lại cho V1 một bịch ma túy, loại ma túy đá. Mua được ma túy, V1 đem số ma túy về nhà và chiết ra bán hết cho Bùi Thanh X, Nguyễn Hoài T2 và Nguyễn Văn H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã thu giữ được khối lượng 0,542 gam chất ma túy, loại Methamphetamine còn lại mà V1 đã mua của T lần này. Đối với số tiền 1.200.000 đồng T có được do bán ma túy cho bị cáo V1, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định được được Trần Văn T còn thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” 11 lần khác cho các đối tượng nghiện ma túy, thu lợi 2.990.000 đồng. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất và lần thứ hai: Vào tối ngày 02/5/2023, Nguyễn Hoài T2 gọi điện thoại cho Trần Văn T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. T đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà của T. Lát sau, T2 đến nhà của T đưa cho T 200.000 đồng, T giao lại cho T2 một đoạn ống hút hàn kín, bên trong có chứa ma túy. Mua được ma túy, T2 về nhà một mình sử dụng hết. Cũng với thủ đoạn trên, vào tối ngày 21/6/2023, T2 liên lạc mua của T 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng rồi về nhà một mình sử dụng hết.
Lần thứ ba và lần thứ tư: Vào khoảng hơn 10 giờ 20 phút, ngày 24/6/2023, Mai Văn Nguyễn K2 gọi điện thoại hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của T. T đồng ý, K2 sử dụng tài khoản Ngân hàng Q (M2), số 0878814532, tên “MAI VAN NGUYEN KHANH” chuyển 200.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng T6, số: 19700769353329, tên “TRAN VAN THAI” của T. Sau đó K2 đến nhà T, T đưa cho K2 một đoạn ống hút hàn kín, bên trong có chứa ma túy. Số ma túy này K2 đem về nhà một mình sử dụng hết. Đến khoảng gần 19 giờ, ngày 18/7/2023, K2 tiếp tục liên lạc mua của T 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng rồi về nhà một mình sử dụng hết.
Lần thứ năm và lần thứ sáu: Khoảng 08 giờ, ngày 02/8/2023, Nguyễn Văn V2 và Nguyễn Minh T3 (N2), hùn tiền mỗi người 150.000 đồng để mua một bịch ma túy đá của T giá 300.000 đồng. V2 sử dụng điện thoại di động của T3 liên lạc
cho T ma túy, T đồng ý và T3 sử dụng Ví điện tử MOMO, số: 0946752924, tên “Nguyễn Minh T3” chuyển 300.000 đồng vào Ví điện tử MOMO, số 0769353329 của T. Sau đó, T3 điều khiển xe (không rõ đặc điểm xe) chở V2 đến địa điểm giao dịch ma túy tại nhà của T như thỏa thuận. Khi đến nơi, T3 đậu xe trước cửa nhà của T chờ còn V2 trực tiếp vào gặp T để nhận ma túy. Sau đó, T3 chở V2 về nhà, chia ma túy vừa mua được thành hai phần, mỗi người một phần và đã sử dụng hết. Cũng với phương thức trên, vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 02/8/2023, V2 và T3 hùn tiền, mỗi người 250.000 đồng để mua 500.000 đồng ma túy của T (giao dịch qua tài khoản MOMO) về chia ra để sử dụng.
Lần thứ bảy đến lần thứ mười một: Vào tối ngày 23/6/2023, Nguyễn Văn H1 gọi điện thoại cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. T đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà của T. Sau đó, H1 một mình chạy xe (không xác định được đặc điểm xe) đến nhà của T. Tại trước nhà T, H1 sử dụng tài khoản Ngân hàng S, số: [...], tên “NGUYEN VAN HANH” chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng T6, số: 19700769353329, tên “TRAN VAN THAI” theo yêu cầu của T. Nhận được tiền, T giao cho H1 một đoạn ống hút hàn kín, bên trong có chứa ma túy. Mua được ma túy, H1 đem về nhà và một mình sử dụng hết. Cũng với cách thức như trên, vào tối ngày 26/6/2023, H1 liên lạc mua của T 01 bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng. Do không đủ tiền nên Nguyễn Văn H1 đề nghị được giảm 10.000 đồng, T đồng ý bán cho H1 với giá 290.000 đồng, giao dịch qua tài khoản ngân hàng T6 của T. Số ma túy này H1 đem về nhà một mình sử dụng hết. Tương tự như trên H1 đã liên lạc mua ma túy của T 03 lần khác vào các ngày 22/7/2023, 25/7/2023 và 03/8/2023 với số tiền 600.000 đồng. Số ma túy mua được, H1 về nhà một mình sử dụng hết.
Trong quá trình điều tra Trần Văn T chỉ thừa nhận 02 lần bán ma túy cho V1 nhưng không thừa nhận 11 lần bán ma túy trên và cho rằng việc chuyển tiền như các lần trên là tiền mượn các đối tượng để chơi game. Nhưng lời khai của Nguyễn Văn V2 và Nguyễn Minh T3 khẳng định đã 02 lần hùn tiền và cùng đến nhà T mua ma túy về sử dụng, lời khai của V2 và T3, Nguyễn Hoài T2, Nguyễn Văn H1 và Mai Văn Nguyễn K2 phù hợp với cách thức, phương thức bán ma túy của T cho những người ở các lần khác như trên, đồng thời phù hợp với các chứng cứ đã thu thập có
trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ quy kết Trần Văn T bán ma túy nhiều lần cho những người mua ma túy trên.
Qua kết quả tra cứu thuê bao, sao kê tài khoản ngân hàng: Nội dung lời khai của bị cáo Nguyễn Quang V1 phù hợp với lời khai của bị cáo Trần Văn T, phù hợp với dữ liệu cuộc gọi đối với số điện thoại sim số 0769.353.xxx và dữ liệu sao kê tài khoản Ngân hàng Q (M2), số: 0769353329, tên “TRAN VAN THAI”.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H1 phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Quang V1, phù hợp với nội dung trong biên bản nhận dạng, nội dung trong biên bản đối chất, dữ liệu cuộc gọi đối với số điện thoại 0769.353.xxx và phù hợp với dữ liệu sao kê tài khoản Ngân hàng T6, số: 19700769353329, tên “TRAN VAN THAI".
Nội dung lời khai của Mai Văn Nguyễn K2 phù hợp với nội dung trong biên bản nhận dạng, nội dung trong biên bản đối chất, dữ liệu cuộc gọi đối với số điện thoại 0769.353.xxx, dữ liệu sao kê tài khoản Ngân hàng T6, số: 19700769353329, tên “TRAN VAN THAI” và phù hợp với dữ liệu sao kê tài khoản Ngân hàng Q (M2), số: 0769353329, tên “TRAN VAN THAI”.
Nội dung lời khai của Nguyễn Hoài T2 phù hợp với nội dung trong biên bản nhận dạng, nội dung trong biên bản đối chất và phù hợp với dữ liệu cuộc gọi đối với số điện thoại 0769.353.xxx của Trần Văn T.
Nội dung lời khai của Nguyễn Minh T3 phù hợp với nội dung lời khai của Nguyễn Văn V2, phù hợp với nội dung trong các biên bản nhận dạng, nội dung trong biên bản đối chất, dữ liệu cuộc gọi đối với số điện thoại 0769.353.xxx và phù hợp với dữ liệu sao kê Ví điện tử MOMO, số: 0769353329, tên “Trần Văn T”.
Ngoài ra, quá trình điều tra ban đầu Nguyễn Văn V2 khai mua ma túy của Trần Văn T tổng cộng 05 lần; Trần Quốc T4 mua ma túy của T 02 lần; Nguyễn Thị Bích T5 giúp người tên H2 chuyển khoản mua ma túy của T 01 lần. Tuy nhiên, do không đủ thông tin và không biết nơi ở mới nên sau này Cơ quan điều tra chưa làm việc được V2, T4, T5, H2. Đồng thời T cũng không thừa nhận có bán ma túy cho V2, T4, T5, H2 nên không đủ căn cứ xử lý hình sự Trần Văn T đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho V2, T4, T5, H2.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao lãnh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Quang V1 cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2023.
- Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự:
- Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn T với số tiền 30.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
- Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Quang V1 với số tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn quang V3 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Bị cáo V1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi của các bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 13 giờ 20 phút, ngày 03/8/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ kết hợp với Công an thành phố C và Công an phường M kiểm tra nhà nghỉ B, địa chỉ số E, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,161gam ma túy, loại Methamphetamine, số ma túy có được là do H1 mua của Nguyễn Quang V1 mục đích để sử dụng. Qua khám xét nơi ở của V1, lực lượng Công an thu giữ được 0,542 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán trái phép chất ma túy. Nguồn ma túy V1 bán cho H1, đã bị thu giữ và số ma túy thu giữ qua khám xét tại nhà V1 là mua của Trần Văn T mục đích về bán lại kiếm lời. Như vậy V1 và T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy có tổng khối lượng: 0,703 gam, loại Methamphetamine. Qua quá trình điều tra xác định được T đã bán ma túy tổng cộng 13 lần và V1 đã có hành vi bán ma túy tổng cộng 8 lần cho các con nghiện khác.
[2] Hành vi của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy có tác hại rất xấu đến sức khỏe là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Tuy nhiên, bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Bị cáo V1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới; Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Xét thấy, bị cáo T là người có nhân thân xấu, từng bị xử lý hình sự về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” lại tiếp tục phạm tội. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với
tính chất, mức độ của hành vi của các bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1, giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Do kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Quang V1 cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2023.
- Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự:
- Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn T với số tiền 30.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
- Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Quang V1 với số tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí:
- Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Quang V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 120/2024/HS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 120/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
