Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số:120/2023/HS-ST

Ngày: 23/8/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.

-Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Thủy; Bà Vừ Thị Hoa.

-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:115/2023/TLST- HS, ngày 19/7/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:120/2023/QĐXXST- HS ngày 09/8/2023 đối với các bị cáo:

1.Lường Văn L - sinh ngày 12/10/1991, tại Than Uyên, Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lường Văn Nh (đã chết); Con bà: Lò Thị S - sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Lò Thị H - sinh năm 1994; Bị cáo có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ 01 giờ 00 phút ngày 23/4/2023, tạm giam từ ngày 02/5/2023 đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh.( có mặt tại phiên tòa).

2.Hà Văn S - sinh ngày 01/01/1990, tại huyện Than Uyên, Lai Châu. Nơi cư trú: Bản M Th, xã P T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Hà Văn D; Con bà: Lò Thị L (đều đã chết); Gia đình có 09 chị, em; bị cáo là con thứ chín; Vợ: Lò Thị L1 – sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con.

Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án HSST số: 52/2021/HSST, ngày 15/6/2021, Hà Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 311; các điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Tàng trữ trái phép chất độc”. Hiện bị can chưa đi chấp hành.

Về nhân thân: Tại Bản án số: 39/2023/HSST, ngày 25/4/2023, Hà Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 227; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 28; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Tổng hợp 01 năm 06 tháng án treo tại bản án số 52/2021 ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 02 năm 03 tháng tù.

Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 19/10/2022 Hà Văn S bị UBND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản với số tiền 60.000.000 đồng, bị cáo chưa thi hành Quyết định này.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 01 giờ 00 phút ngày 23/4/2023, tạm giam từ ngày 02/5/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. ( có mặt tại phiên tòa).

3.Nguyễn Văn Ngh - sinh ngày 01/5/1994, tại huyện Y Th, tỉnh Ngh A. Nơi cư trú: Xóm C Tr, xã V Th, huyện Y Th, tỉnh Ngh A. Nơi tạm trú: Bản N Ng, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn Ngh1 - sinh năm 1959; Con bà: Nguyễn Thị H - sinh năm 1964; Gia đình bị cáo có 04 chị, em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Trần Ngọc Tr - sinh năm 2000; Bị cáo có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không có.

Về nhân thân: tại bản án số: 561/2018/HSST, ngày 30/11/2018, Nguyễn Văn Ngh bị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Ngh A áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt 01 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù; hiện đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 01 giờ 00 phút ngày 23/4/2023, tạm giam từ ngày 02/5/2023, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh.( có mặt tại phiên tòa).

4.Vương Văn Kh - sinh ngày 01/02/1980, tại huyện V B, tỉnh L C. Nơi cư trú: Thôn 1 M Th, xã M L, huyện V B, tỉnh L C; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Vương Văn Th (đã chết); Con bà: Sầm Thị Đ - sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có 04 anh, em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Dương Thị H – sinh năm 1982; Bị cáo có 02 con; Tiền án: Không có.

Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 18/8/2022 Vương Văn Kh bị UBND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản với số tiền 60.000.000 đồng, bị can chưa thi hành Quyết định này.

Bị can bị bắt, tạm giữ từ 01 giờ 00 phút ngày 23/4/2023, tạm giam từ ngày 02/5/2023, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh.( có mặt tại phiên tòa).

5.Nguyễn Xuân L - sinh ngày 04/4/1997, tại huyện Than Uyên, Lai Châu. Nơi cư trú: Bản đội 9, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Trọng H – sinh năm 1962; con bà: Nguyễn Thị Th – sinh năm 1962; Gia đình bị cáo có 04 anh, em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Lê Thị H - sinh năm 1996; Bị cáo có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không có.

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên chi bộ bản đội 9, thuộc Đảng bộ xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Bị cáo bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 02/5/2023 theo Quyết định số:58-QĐ/UBKTHU, ngày 04/5/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Than Uyên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ 01 giờ 00 phút ngày 23/4/2023, tạm giam từ ngày 02/5/2023 đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh.( có mặt tại phiên tòa).

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà: Lò Thị S – sinh năm 1966.

    Trú tại: Bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

  2. Chị: Lường Thị L – sinh năm 1989.

    Trú tại: Bản M Th, xã P T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. (Đều có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 22/4/2023, Lường Văn L, Hà Văn S, Nguyễn Văn Ngh, Vương Văn Kh, Nguyễn Xuân L ăn cơm, uống rượu tại nhà mẹ đẻ của Lường Văn L là bà Lò Thị S, sinh năm 1966, trú tại bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Sau khi ăn uống xong khoảng 22 giờ cùng ngày, lúc này người trong nhà bà S đã đi ngủ hết. L, S, Ngh, Kh, L1 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “Liêng”. Sau đó, Lường Văn L đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ về thì cả 05 người gồm: Lường Văn L, Hà Văn S, Nguyễn Văn Ngh, Vương Văn Kh, Nguyễn Xuân L cùng nhau đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng, sát phạt nhau bằng tiền tại phòng ngủ dưới sàn nhà bà Lò Thị S. Phương thức sát phạt nhau được Lường Văn L cùng đồng phạm thống nhất cụ thể như sau: trước mỗi ván chơi, những người tham gia chơi sẽ phải góp số tiền 50.000 đồng để vào chiếu bạc gọi là “Gà”. Sau khi tất cả người chơi góp tiền vào chiếu bạc thì người cầm cái sẽ chia cho tất cả những người chơi, mỗi người 03 quân bài tú lơ khơ (chia úp lá bài, không ngửa bài). Sau đó, tất cả người chơi sẽ lật bài của mình lên để xem số quân bài được chia, nếu 03 quân bài của người chơi người nào cao nhất thì sẽ được lấy toàn bộ số tiền mà những người chơi khác đã góp vào chiếu bạc. Lúc này người thắng trong ván bài đó sẽ làm cái trong ván chơi tiếp theo. Các đối tượng quy định thứ tự bài to, bài nhỏ như sau: to nhất là bộ bài “Sáp”, gồm ba lá bài trùng nhau (ba lá bài hai, ba lá bài chín ...); thứ tự to, nhỏ của Sáp được tính từ sáp hai (nhỏ nhất) đến sáp át (to nhất). Bài to thứ hai là bộ bài “Liêng”, gồm ba quân bài liên nhau, cao nhất là bộ ba lá: Q - K – Át, bé nhất là bộ ba lá: Át – 2 – 3. Nếu những người chơi trong 01 ván đều có Liêng bằng nhau thì tính theo chất từ cao xuống thấp là: Dô – Cơ – Tép – Bích. Bài to thứ ba là bộ bài “Đĩ”, gồm ba quân trong đó có hai quân J, hoặc hai quân Q, hoặc hai quân K, quân còn lại là quân không trùng với hai quân trên, nhưng phải là các quân J, Q hoặc K (Ví dụ: hai quân J và một quân Q; hai quân K và một quân J ...); thứ tự của Đĩ to, Đĩ nhỏ được tính theo chất là: Dô – Cơ – Tép – Bích. Dưới Đĩ là bài tính theo điểm, thứ tự to nhất đến nhỏ nhất từ 9 đến 0; khi cộng các lá bài thì lá Át được tính là 1, các lá J, Q, K tính bằng 0; nếu cộng ba lá bài lại mà tròn 10 thì tính bằng 0, lớn hơn 10 thì chỉ tính hàng đơn vị (Ví dụ tổng ba lá bài bằng 19 thì tính là 9 điểm ...). Nếu trong 01 ván bài có nhiều người có số lá bài bằng điểm nhau thì tính theo chất thứ tự từ to đến nhỏ là: Dô – Cơ – Tép – Bích.

Khi tham gia đánh bạc, L bỏ ra khoảng 1.400.000 đồng; Kh bỏ ra khoảng 150.000 đồng; L1 có bỏ ra khoảng 4.000.000 đồng; Ngh bỏ ra 300.000 đồng; S bỏ ra số tiền 100.000 đồng. Sau khi đánh bạc bị thua hết 100.000 đồng, Hà Văn S lên tầng trên nhà bà S vay con gái bà S là chị Lường Thị L (sinh năm 1989, trú tại bản M Th, xã P T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) số tiền 1.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc. Khi vay tiền, S không nói cho chị L biết để đánh bạc.

Lường Văn L, Hà Văn S, Nguyễn Văn Ngh, Vương Văn Kh, Nguyễn Xuân L đánh bạc đến hồi 01 giờ 00 phút, ngày 23/04/2023 thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc số tiền 2.350.000 đồng và 49 quân bài tú lơ khơ; thu giữ dưới gầm giường số tiền 3.550.000 đồng và 03 quân bài tú lơ khơ do Lường Văn L ném xuống gầm giường khi bị lực lượng Công an phát hiện; thu giữ trong túi quần của Hà Văn S số tiền 1.200.000 đồng là tiền Sượi dùng để đánh bạc (khi bị lực lượng Công an phát hiện Sượi đã giấu vào túi quần).

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ dưới đệm góc đầu giường ngủ số tiền 500.000 đồng là tiền của bà Lò Thị S để trước đó; tạm giữ trong túi quần của Nguyễn Xuân L số tiền 315.000 đồng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Jeno 7 5G, 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, biển kiểm soát 24B-005.31; tạm giữ trong túi quần của Nguyễn Văn Ngh số tiền 200.000 đồng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A11; tạm giữ trong túi quần của Vương Văn Kh số tiền 74.000 đồng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; tạm giữ của Hà Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A03Cone, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, mang biển kiểm soát 25B1-325.03; tạm giữ trong túi quần của Lường Văn L số tiền 1.007.000 đồng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A14 5G.

Tại bản kết luận giám định số 537 ngày 14/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số tiền 8.696.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.

Về vật chứng thu giữ và tạm giữ: Tổng số tiền 9.196.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A11; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A03Cone; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, mang biển kiểm soát 25B1-325.03; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Pro max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Jeno 75G; 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, biển kiểm soát 24B-005.31; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A14 5G; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen loại bàn phím.

Xử lý vật chứng: Đối với 07 chiếc điện thoại di động; 01 xe ô tô; 01 xe mô tô tạm giữ khi bắt quả tang Lường Văn L, Hà Văn S, Nguyễn Văn Ngh, Vương Văn Kh, Nguyễn Xuân L và số tiền 500.000 đồng tạm giữ trên đầu giường ngủ của bà Lò Thị S, sinh năm 1966, trú tại bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại 07 chiếc điện thoại di động; 01 xe ô tô; 01 xe mô tô và số tiền 500.000 đồng nói trên cho các bị can và bà Lò Thị S.

Vật chứng còn lại: Số tiền 7.100.000 đồng; 01 bộ bài 52 quân các bị can dùng để đánh bạc; tổng số tiền 1.596.000 đồng, trong đó: thu giữ của Lường Văn L 1.007.000 đồng, của Nguyễn Văn Ngh 200.000 đồng, của Vương Văn Kh 74.000 đồng, của Nguyễn Xuân L 315.000 đồng, hiện đang được bảo quản theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lường Thị L không yêu cầu bị can Hà Văn S trả lại số tiền 1.000.000 đồng mà bị can S vay chị L để đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số: 87/CT-VKS, ngày 18/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố các bị cáo Lường Văn L; Hà Văn S; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, vai trò, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Văn L; Hà Văn S; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 56 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn S từ 08 tháng đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 39/2023/HS-ST, ngày 25/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày. Buộc bị cáo Hà Văn S phải chấp hành hình phạt chung.

Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn S.

Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

-Xử phạt bị cáo Lường Văn L từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

-Xử phạt bị cáo Vương Văn Kh từ 9 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

-Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ngh từ 15 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

-Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L từ 40 triệu đến 45 triệu đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Xuân L.

Khấu trừ 17 ngày tạm giữ, tạm giam, quy đổi thành 01 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ cho các bị cáo L, Ngh, Kh.

Đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với các bị cáo L, Ngh,Kh.

Về vật chứng của vụ án. Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ có 52 quân bài. Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.100.000đ. Số tiền thu giữ của các bị cáo L, Ngh, Kh, L. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên cần tạm giữ để khấu trừ vào số tiền phạt mà các bị cáo phải chịu.

Về án phí. Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội tự tu dưỡng rèn luyện mình thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử khẳng định các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay, hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa cũng như nội dung Cáo trạng truy tố. Một lần nữa khẳng định: Khoảng 22 giờ ngày 22/4/2023, tại bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Lường Văn L, Hà Văn S, Nguyễn Văn Ngh, Vương Văn Kh, Nguyễn Xuân L cùng rủ nhau và cùng tham gia thực hiện hành vi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền mặt dưới hình thức chơi “Liêng”. Đến hồi 01 giờ ngày 23/4/2023, L, S, Ngh, Kh, L bị Công an huyện Than Uyên bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tổng số tiền L, S, Ngh, Kh, L dùng để đánh bạc gồm: 7.100.000 đồng và 52 quân bài tú lơ khơ.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lường Văn L, Hà Văn S, Nguyễn Văn Ngh, Vương Văn Kh, Nguyễn Xuân L đã cấu thành tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Xét thấy hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do vậy các bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội của mình gây ra.

[3] Xét về tính chất, vai trò, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều nhận biết được từ việc đánh bạc dẫn đến tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình, cá nhân và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ đánh bạc dưới bất kỳ hình thức được thua bằng tiền đều là hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm. Nhưng để có tiền tiêu sài một cách nhanh chóng mà không phải bỏ nhiều công sức, các bị cáo đã cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội với tổng số tiền đánh bạc hơn 7 triệu đồng.

Trong vụ án này bị cáo Lường Văn L là người cho phép: S, Ngh, Kh, L tham gia đánh bạc tại nhà mẹ đẻ của L là bà Lò Thị S trong lúc bà S đi ngủ (L là người tạm thời quản lý nhà bà S). Quá trình điều tra xác định: Lường Văn L đã cùng tham gia đánh bạc với S, Ngh, Kh, L với quy mô có 01 chiếu bạc, dưới 10 người tham gia, số tiền dùng đánh bạc cùng một lúc trị giá dưới 20 triệu đồng, L không tổ chức cho S, Ngh, Kh, L cầm cố tài sản để đánh bạc. Lường Văn L trước đó không bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, không có tiền án về tội đánh bạc. Do vậy, Cơ quan điểu tra không đề cập xử lý đối với Lường Văn L về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là đúng quy định. Nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò chính và chịu hình phạt cao hơn.

Tiếp đến bị cáo Hà Văn S là người tham gia đánh bạc với số tiền không lớn, tuy nhiên trước khi phạm tội bị cáo đã có 01 tiền án đó là: Tại bản án số: 52/2021/HSST, ngày 15/6/2021, Hà Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 311; các điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Tàng trữ trái phép chất độc”. Hiện bị cáo chưa đi chấp hành. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “ Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hơn nữa về nhân thân: Tại Bản án số: 39/2023/HSST, ngày 25/4/2023, Hà Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 227; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 28; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Tổng hợp 01 năm 06 tháng án treo tại bản án số 52/2021 ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cả hai bản án là 02 năm 03 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là tù có thời hạn và tổng hợp hình phạt với bản án số 39 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Vai trò tiếp là bị cáo Nguyễn Văn Ngh: Tại bản án số: 561/2018/HSST, ngày 30/11/2018, Nguyễn Văn Ngh bị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Ngh A áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt 01 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, hiện đã được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy hình phạt này làm bài học, tu dưỡng rèn luyện, chấp hành nghiêm các quy định pháp luật. Nhưng khi thấy các bị cáo khác đánh bạc, bị cáo không những không ngăn cản mà còn tham gia một cách tích cực, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi của mình.

Đối với bị cáo Vương Văn Kh là người có một tiền sự về hành vi vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản; Bị cáo Nguyễn Xuân L là người Đảng viên, nhưng đã vi phạm pháp luật, vi phạm những điều Đảng viên không được làm. Khi tham gia tham gia đánh bạc, tuy số tiền không lớn nhưng đã tạo thêm động lực về tinh thần cho các bị cáo khác. Nên hai bị cáo cũng phải chịu một hình phạt tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội của mình.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc thống nhất từ trước, đều là những người thực hiện. Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tương ứng với từng bị cáo cũng như căn cứ pháp luật, mức hình phạt đề nghị của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp. Đối với các bị cáo Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L, xét không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ mọi điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.

Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Lò Thị S và chị Lường Thị L. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành phạm tội và tại phiên tòa hôm nay hai người không có yêu cầu, đề nghị gì, nên không đề cập giải quyết.

[4] Về hình phạt bổ sung: Để tăng tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là phạt tiền tương xứng với tính chất, vai trò của các bị cáo: Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh.

[5] Về vật chứng còn lại của vụ án gồm có: 7.100.000 đồng. Xét thấy số tiền này các bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền thu giữ trên người của các bị cáo: Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L, xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tạm giữ để khấu trừ vào phần tiền phạt mà các bị cáo phải chịu. Tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ có 52 quân bài.

[6] Về biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh của Tòa án nhân huyện Than Uyên đã được áp dụng đối với các bị cáo: Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L.

[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo: Hà Văn S; Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Hà Văn S; Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 56 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Hà Văn S 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 39/2023/HS-ST, ngày 25/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày. Buộc bị cáo Hà Văn S phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù.

    Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2023.

    Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn S.

    Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ngh 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 17 ngày tạm giữ, tạm giam quy đổi thành 01 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo còn lại là 13 tháng 09 ngày được tính từ ngày UBND xã Vân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Lường Văn L 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 17 ngày tạm giữ, tạm giam quy đổi thành 01 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo còn lại là 13 tháng 09 ngày được tính từ ngày UBND xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    - Xử phạt bị cáo Vương Văn Kh 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 17 ngày tạm giữ, tạm giam quy đổi thành 01 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo còn lại là 10 tháng 09 ngày được tính từ ngày UBND xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Căn cứ khoản 1 khoản Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 40.000.000 đồng. (bốn mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ số tiền thu giữ của bị cáo là 315.000đồng, bị cáo còn phải thi hành tiếp số tiền là 39.685.000đồng (ba mươi chín triệu sáu trăm tám mươi năm ngàn đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Các bị cáo L, Ngh, Kh phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 99;100;101 Luật thi hành án hình sự.

    Giao các bị cáo Lường Văn L cho UBND xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giám sát giáo dục. Giao bị cáo Nguyễn Văn Ngh cho UBND xã V Th, huyện Y Th, tỉnh Ngh A giám sát giáo dục. Giao bị cáo Vương Văn Kh cho UBND xã M L, huyện V B, tỉnh L C giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền xã trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Do các bị cáo Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh không có thu nhập ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Trường hợp các bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  3. Về hình phạt bổ sung:

    - Xử phạt bị cáo Lường Văn L 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ số tiền thu giữ của bị cáo là 1.007.000đồng, bị cáo còn phải thi hành tiếp số tiền là 8.993.000đồng ( tám triệu chín trăm chín mươi ba ngàn đồng).

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ngh 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ số tiền thu giữ của bị cáo là 200.000đồng, bị cáo còn phải thi hành tiếp số tiền là 9.800.000đồng ( chín triệu tám trăm ngàn đồng).

    - Xử phạt bị cáo Vương Văn Kh 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ số tiền thu giữ của bị cáo là 74.000đồng, bị cáo còn phải thi hành tiếp số tiền là 9.926.000đồng (chín triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn đồng).

  4. Về vật chứng:

    - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.100.000đ (bảy triệu một trăm ngàn đồng) đựng trong 01 bì thư đã niêm phong. Tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ có 52 quân bài.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 24/7/2023).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Hà Văn S; Lường Văn L; Nguyễn Văn Ngh; Vương Văn Kh; Nguyễn Xuân L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử theo thủ tục phúc thẩm /.

Nơi nhận:

  • - TKSND huyện Than Uyên.
  • - VKSND tỉnh Lai Châu.
  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
  • - Các bị cáo, người có QLNVLQ.
  • - UBND xã Phúc Than, xã Minh Lương, xã Vân Thành.
  • - CQĐT huyện Than Uyên.
  • - CQTHADS huyện Than Uyên.
  • - Chi cục THADS huyện Than Uyên.
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2023/HS-ST ngày 23/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự tội đánh bạc

  • Số bản án: 120/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt các bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger