TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/07/2024
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam, bà Trần Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 297/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 386/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 385/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Kim Q, sinh năm 1998. Địa chỉ: số I, khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1996. Địa chỉ: số C khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Kim Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H tự quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 04/07/2018 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Q yêu cầu ly hôn với ông H.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng bà Q và ông H có hai con chung tên Nguyễn Trần Phương T, sinh ngày 11/06/2019 và Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 25/01/2021. Bà Q đồng ý giao con chung Nguyễn Trần Phương T cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà Q không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Q yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 25/01/2021, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Q yêu cầu tự thỏa thuận với ông H nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn H vắng mặt, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Trần Kim Q có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, ông Nguyễn Văn H vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn bà Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn ông H vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nên ông phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly ly hôn của bà Q với ông H. Bà Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trần Phương T, sinh ngày 11/06/2019, ông H không cấp dưỡng nuôi con chung; ông H trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 25/01/2021, bà Q không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 04/07/2018 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Bà Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H, cư trú phường B, thành phố L, tỉnh An Giang nên căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Q và ông H là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Kim Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do, không có đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông H vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 04/07/2018 được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay, bà Q và ông H phát sinh mâu thuẫn, bà Q xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của bà Q và ông H sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn, do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm, yêu thương, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Trong thời gian giải quyết bà Q luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
[5] Xét, hôn nhân giữa bà Q và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, thực hiện các công việc trong gia đình, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, bà Q không còn tình cảm với ông H, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông H vắng mặt, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q tức là ông đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông đã được pháp luật quy định. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Q được ly hôn với ông H.
[6] Về quan hệ con chung: Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H có hai con chung tên Nguyễn Trần Phương T, sinh ngày 11/06/2019 và Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 25/01/2021. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu T đang sống chung với bà Q, được bà chăm sóc tốt, có nơi ở ổn định, được học tập tại nên cần thiết giao con chung cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, bà Q được trực tiếp, tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Nguyễn Trần Phương T. Đối với cháu Nguyễn Trần Gia B hiện nay đang sống chung với ông H, được ông chăm sóc tốt, có nơi ở ổn định, nên cần thiết giao con chung cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, Bà Q không yêu cầu và không cấp dưỡng nuôi cháu B, phía ông H không có ý kiến tranh chấp nên không xét đến, nếu có sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q yêu cầu tự thỏa thuận với ông H nên không xem xét.
[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Q nộp tiền án phí 300.000đ, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0002003, ngày 09 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, bà Q đã nộp đủ; ông H không nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 8, 9, 19, 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- -Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Kim Q được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- -Về quan hệ con chung: Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H có hai con chung tên tên Nguyễn Trần Phương T, sinh ngày 11/06/2019 và Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 25/01/2021.
- +Bà Trần Kim Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Trần Phương T, sinh ngày 11/06/2019; ông Nguyễn Văn H không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Q không yêu cầu.
- +Ông Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 25/01/2021; bà Trần Kim Q không cấp dưỡng nuôi con chung do ông H không yêu cầu.
- +Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
- -Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Kim Q và ông Nguyễn Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- -Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Kim Q nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002003 ngày 09/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Văn H không nộp án phí.
Bà Trần Kim Q, ông Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của bà Q, ông H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TPLX; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
