|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HSST Ngày: 23-05-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Ông Võ Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung B, sinh ngày 20 tháng 09 năm 2002, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Ngọc B1, có 01 em ruột, chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 238/QĐ-TA ngày 02 tháng 08 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, ngày 04 tháng 01 năm 2023 chấp hành xong; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 01 năm 2024, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 00 ngày 23 tháng 01 năm 2024, Công an xã T, huyện C tuần tra đến giao lộ đường giao thông nông thôn với đường Tỉnh lộ 7 thuộc ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Trung B đang điều khiển xe máy biển số: 54S4-5945 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc
này, B dùng tay trái lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ném xuống đường cách vị trí B đứng 0,5 mét nhưng bị Công an phát hiện thu giữ. B khai nhận là ma túy đá mua của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại đồng ruộng thuộc xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 500.000 đồng để sử dụng. Lực lượng Công an tiến hành bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 1774/KL-KTHS ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an Thành Phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2345 gam, loại Methamphetamine.
Về vật chứng thu giữ: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 xe máy biển số 54S4-5945.
Tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKS-CC ngày 12 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Trung B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trung B mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ của bị cáo và tịch thu sung công quỹ Nhà nước xe máy biển số 54S4-5945.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo B, khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lời nói sau cùng, bị cáo B đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung B khai nhận: ngày 23 tháng 01 năm 2024, bị cáo có mua 500.000 đồng ma túy của một người đàn ông tại khu vực xã T, huyện C mang về sử dụng, khi đi đến đoạn đường Tỉnh lộ 7 thuộc ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị công an phát hiện bắt giữ cùng với tang vật.
Qua giám định khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo, Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2345 gam.
Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và phù hợp với Kết luận giám định số 1774/KL-KTHS ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, dù biết rõ việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trung B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, gây mất trật tự xã hội và là nguyên nhân có thể gây ra nhiều tệ nạn và tội phạm khác, song bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo có một tiền sự về việc bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, mới chấp hành xong một thời gian lại tiếp tục tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, điều đó thể hiện ý thức của bị cáo rất coi thường pháp luật, do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo lần đầu phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong một gói mang số vụ 570/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và cán bộ điều tra, xét thấy, đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe gắn máy biển số 54S4-5945, số khung: LLKXCG001LX – 018939, số máy: VLKZS150FMG - 2 - 000018939, qua xác minh biển số 54S4-5945 là của xe gắn máy có số khung: RNGKCG1VH81003129 và số máy VZS150FMG1003129 do ông Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: số A đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký sở hữu, tuy nhiên Công an P, quận B xác minh không có địa chỉ trên nên không triệu tập được ông Đ để lấy lời khai; số khung: LLKXCG001LX – 018939, số máy: VLKZS150FMG - 2 – 000018939 qua xác minh không có dữ liệu đăng ký; xét thấy, chiếc xe máy trên bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, bị cáo khai mua chiếc xe máy trên của một người không rõ lai lịch vào năm 2023, khi mua không lập giấy tờ mua bán, nguồn gốc xe không rõ ràng nên Hội đồng xét xử quyết định giao chiếc xe gắn máy trên cho Cơ quan thi hành án huyện C đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn 03 tháng mà chủ sở hữu hợp pháp không đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[4] Đối với người bán ma túy cho bị cáo B, khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ được lai lịch sẽ xử lý sau.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Nguyễn Trung B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung B mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23 tháng 01 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong một gói mang số vụ 570/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và cán bộ điều tra.
- Giao cơ quan Thi hành án huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe gắn máy biển số 54S4-5945, số khung: LLKXCG001LX – 018939, số máy: VLKZS150FMG - 2 - 000018939, trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn 03 tháng mà không có ai là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 28 tháng 02 năm 2024).
3. Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Nguyễn Trung B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: bị cáo Nguyễn Trung B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 120/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 120/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Trung B
