|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 21-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim;
Ông Nguyễn Tiến Ngọc;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với Bị cáo:
- - Họ và tên: Chu Văn S, sinh năm 1998. Giới tính: Nam.
- - Tên gọi khác: Không.
- - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không.
- - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12.
- - Con ông: Chu Văn Q.
- - Con bà: Trương Thị V.
- - Gia đình có 06 anh chị em, bị can là con thứ sáu.
- - Vợ: Lưu Thị N, sinh năm 2000 (đã ly hôn).
- - Con: Bị can có 01 con sinh năm 2018.
- - Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HSST ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Chu Văn S 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023.
- - Tiền sự: Không.
- - Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B.
(có mặt tại phiên toà)
- Người làm chứng:
- 1. Ông Hà Văn T, sinh năm 1960; địa chỉ: T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- 2. Anh Ngô Văn S1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 25 phút ngày 08/01/2024, tại đoạn đường gom thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang Chu Văn S- sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước đang mặc của S 04 gói giấy đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine, Cơ quan điều tra đã niêm phong số vật chứng trên trong phong bì ký hiệu “QT”. Quá trình bắt quả tang, S tự giác giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đỏ, có số Imeil: 862449044070213, lắp sim số 0789.383.198, Cơ quan điều tra đã niêm phong điện thoại trên trong phong bì ký hiệu “ĐT S”.
Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Chu Văn S tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, có viền màu đỏ, trong có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 tờ giấy màu trắng, có dòng kẻ, trên có chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, tất cả vật chứng trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX S”, ngoài ra còn thu giữ 01 dao lam.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định đối với vật chứng thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” và “KX Sơn”. Tại bản Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói giấy màu trắng có dòng kẻ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,261 gam, loại Heroine.
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX S” đã được niêm phong gửi giám định:
Chất bột màu trắng bám dính trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Heroine, không xác định được khối lượng.
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ đều là ma túy, có khối lượng 0,448 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra bị can Chu Văn S khai nhận về nguồn gốc số ma túy khi bắt quả tang và khi khám xét như sau: S là người nghiện ma túy Heroine. Thông qua bạn bè xã hội S biết được tài khoản zalo của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) có ma túy để bán. Khoảng 16 giờ ngày 07/01/2024, S liên hệ với người đàn ông trên để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy H, người đàn ông đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực đường gom thuộc xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, S một mình đến khu vực bãi đất trống thuộc Khu Công nghiệp N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để chờ người bán ma túy. Một lúc sau một người đàn ông đeo khẩu trang (S không quen biết) đến gần vị trí của S đang đứng chờ. S đưa tiền cho người này thì người đó đưa lại 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, S cầm ma túy mang về phòng trọ của mình, tại phòng trọ S bỏ ra một ít ma túy để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ ngày 08/01/2024, S bỏ số ma túy còn lại ra dùng dao lam chia nhỏ thành 04 phần rồi gói lại từng phần vào các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ để thuận tiện cho việc sử dụng ma túy. Sau khi chia được 04 gói giấy ma túy, S có việc phải đi ra ngoài nên đã cầm 04 gói ma túy mang theo để ở túi quần phía trước bên phải S đang mặc để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Số ma túy còn lại trên tờ giấy trắng có dòng kẻ chưa chia hết S vẫn để trên mặt chiếu trải trên nền phòng trọ. Khi S đang đi trên đường thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy cùng đồ vật có liên quan.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành test nhanh chất ma tuý đối với Chu Văn S. Kết quả Sơn dương tính với chất ma tuý OPI. Ngày 05/4/2024, Công an thị xã V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với Chu Văn S về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Kết quả điều tra xác định: 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đỏ, có số Imeil: 862449044070213, lắp sim số 0789.383.198; 01 chiếc dao lam là tài sản có bị can sử dụng vào việc phạm tội. Toàn bộ số vật chứng trên cùng số ma túy còn lại sau giám định Cơ quan điều tra đã nhập kho các vật chứng để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với ông Thân Văn G- sinh năm 1961, trú tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là chủ phòng trọ của Chu Văn S. Ông giới không biết việc S có hành vi mua và tàng trữ trữ trái phép chất ma túy nên không vi phạm pháp luật.
Đối tượng bán ma túy cho S, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa điểm S khai nhưng không xác định được là ai nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Chu Văn S từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/01/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy ma túy Heroine còn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc dao lam.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo, lắp sim số 0789.383.198;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Hồi 14 giờ 25 phút ngày 08/01/2024, tại đoạn đường gom thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Chu Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,261 gam ma túy loại Heroine. Khám xét khẩn cấp nơi ở trọ của S thu giữ 0,448 gam ma túy loại Heroine. S khai nhận toàn bộ số ma túy trên S mua trước đó với mục đích sử dụng dần. Tổng khối lượng ma túy Heroine Chu Văn S tàng trữ trái phép là 0,709 gam.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Chu Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.
[4] Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân xấu, có 01 tiền án: Năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Chu Văn S 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can đã có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng vẫn phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Từ những phân tích trên, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đỏ, có số Imeil: 862449044070213, lắp sim số 0789.383.198 là tài sản của bị cáo nhưng sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chiếc dao lam là bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Chu Văn S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng mẫu vật ma tuý còn lại sau giám định.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc dao lam.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đỏ, có số Imeil: 862449044070213, lắp sim số 0789.383.198;
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Chu Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép ma túy