TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HS-ST
Ngày 13/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.
Ông Đào Xuân Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn O, sinh năm 1973; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; văn hóa: 03/12; con ông Dương Văn Y (đã chết); con bà Dương Thị B, sinh năm 1952, trú tại B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; vợ: Trần Thị T, sinh năm 1976 (Hiện đi xuất khẩu lao động ở Đảo S); bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Lương Đình C, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (đã chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y (vắng mặt).
- + Chị Lương Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Chị Lương Thị M, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y (vắng mặt).
- + Anh Lương Ngọc A, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị L, chị Lương Thị T1, chị Lương Thị M ủy quyền tham gia tố tụng cho: Anh Lương Ngọc A, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y (vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Lương Thị M, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A Đ, phường K, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- + Chị Lương Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Dương Xuân T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 20/6/2024, Dương Văn O, sinh năm 1973 ở thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98Y1- 9020 đi đến khu vực chợ tạm của xã X, huyện Y để mua thịt vịt quay về ăn cơm. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Dương Văn O điều khiển xe mô tô đi trên đường T hướng xã X đi cầu B để về nhà với tốc độ khoảng 30km/h, khi này thấy trời tối, các xe đi phía trước bật đèn khiến tầm nhìn của O bị hạn chế nên O bật đèn xe, giữ nguyên tốc độ và tiếp tục điều khiển xe đi, vừa đi vừa nhìn xuống hộp thịt vịt xem có bị chảy nước ra ngoài không. Lúc này, ở phía trước có ông Lương Đình C, sinh năm 1946 ở thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang dắt xe đạp đi bộ phía trước bên phải đường, hướng cùng chiều. Khi O đi đến Km số 8 + 450m tỉnh lộ 299 thuộc địa phận thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 2 Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, nên O đã để xe mô tô do mình điều khiển lao vào phía sau người ông Lương Đình C. Hậu quả, O và ông Lương Đình C ngã ra đường bị thương, được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, đến rạng sáng ngày 21/6/2024 thì ông C bị chết.
Sau khi vụ việc xảy ra, Đội Cảnh sát giao thông trật tự và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi, khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường được xác định tại km số 8+450m, tỉnh lộ 299, thuộc địa phận thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Lấy mép đường bên phải, hướng xã X đi cầu B làm chuẩn, lấy cột điện viễn thông số 13, được cắm đặt ở lề đường bên phải theo chiều khám nghiệm làm điểm mốc cố định.
- - Mặt đường được trải nhựa phẳng rộng 14,4m, ở giữa có vạch kẻ đường bằng sơn màu trắng, chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Mặt đường bên phải rộng 3,2m, lề đường đất rộng 1,5m. Đoạn đường có đèn đường chiếu sáng.
- - Trong lề đường đất phát hiện 01 chiếc xe đạp đổ nghiêng sườn trái, đầu xe hướng cầu B; Trục bánh trước cách mép đường bên phải là 0,2m, trục bánh sau cách mép đường là 0,3m.
- - Xe mô tô biển kiểm soát 98Y1- 9020 đổ nghiêng bên trái, đầu xe nằm trên lề đường đất hướng vào lề đường, đuôi xe hướng ra mặt đường, trục bánh trước cách mép đường phải là 0,4m, trục bánh sau cách mép đường phải là 0,7m; Trục bánh trước của xe mô tô cách trục bánh trước xe đạp là 11,5m. Bên cạnh xe mô tô có vết máu kích thước (0,5 x 0,2)m.
Trên hiện trường để lại các dấu vết:
- - Vết số 01 (ký hiệu 2) là vết cày xước trên mặt đường kích thước 8,6x0,02)m; điểm đầu cách mép đường phải là 0,8m, điểm cuối trùng với giá để chân trước bên trái của xe mô tô 98Y1-9020, cách mép đường là 0,2m;
- - Vết số số 2 (ký hiệu 3) là vết xước trên mặt đường kích thước (6,7x 0,05)m, điểm đầu cách mép đường bên phải là 1.1m, điểm cuối trùng với giá để chân sau xe mô tô, cách mép đường phải là 0,6m.
* Khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Super Dream màu sơn nâu, biển kiểm soát 98Y1-9020:
Đầu giá để chân trước bên trái cách đất 28cm, có vết mài sát cao su theo chiều từ trước về sau, kích thước (4,3 x 2,5) cm; Đầu thanh kim loại này có dấu vết mài sát kim loại, bám dính bột đá màu trắng, kích thước (1,4 x 1,2) cm. Mặt ngoài lốc máy bên trái, mặt ngoài bên trái cần số, tại vị trí cách đất 26cm bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu), dạng bắn tóe, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (7 x 2,5) cm. Cạnh ngoài cánh yếm bên trái, tại vị trí cách đất 62 cm có vết mài xước nhựa, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (4 x 0,3)cm. Gương chiếu hậu bên trái bị đẩy xoay, lệch khỏi vị trí cố định, vỡ khuyết kính gương, kích thước (14 x 9)cm. Đầu chân gương bên trái có dấu vết mài xước kim loại, kích thước (2,5 x 0,3)cm. Đầu tay nắm bên trái, tại vị trí cách đất 100cm có vết mài xước, rách cao su, bề mặt bám dính bụi đất, làm bộc lộ thanh kim loại bên trong, kích thước (3 x 2)cm. Mặt dưới đầu xi nhan trước bên trái, tại vị trí cách đất 96 cm có dấu vết vỡ khuyết nhựa, kích thước (4 x 3)cm. Đầu đèn xi nhan phía trước bên trái và ốp nhựa tiếp giáp, tại vị trí cách đất 100 cm có đám mài xước sơn nhựa, bề mặt bám dính bột, bụi đá, kích thước (7 x 4)cm. Mặt trước của mặt nạ, hai cánh yếm, ốp nhựa của đèn chiếu sáng có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ (nghi máu). Ốp nhựa của đèn đèn chiếu sáng bị dập, vỡ khuyết nhựa theo chiều từ trước về sau, từ ngoài vào trong, kích thước (10 x 8)cm. Đầu phía trước bên trái của giá đỡ giỏ xe, tại vị trí cách đất 70 cm có dấu vết mài sát kim loại, bám dính bụi đất, kích thước (1,2 x 0,3)cm. Đầu chắn bùn phía trước bên trái có dấu vết mài xước sơn nhựa, kích thước (5 x 0,7) cm, tâm cách đất 62 cm. Đầu ngoài chốt khóa càng trước bên trái, tại vị trí cách đất 40cm có dấu vết chùi sạch bụi đất, bám dính chất dịch nhày (Dạng mô cơ thể người), Kích thước (0,7 x 0,5)cm. Gương chiếu hậu bên phải bị xoay lệch, mặt gương hướng về phía trước. đầu ốc trục bánh trước bên phải bám dính 01 sợi (dạng lông) màu đen.
Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong biên bản khám xe riêng.
* Khám nghiệm xe đạp 2 bánh, yên xe màu đen có in chữ Việt N
Đầu bàn đạp bên trái có vết mài xước kim loại, bám dính bụi đất, kích thước (2 x 0,5)cm; Đầu tay nắm bên trái, tại vị trí cách đất 94cm có vết mài xước cao su, bám dính bụi đất, kích thước (0,3 x 0,2)cm; Đầu tay phanh bên trái, tại vị trí cách đất 85cm có dấu vết mài xước kim loại, bám dính bụi đất, kích thước (0,7 x 0,2) cm; Mặt ngoài tay nắm bên trái có vết mài sát cao su, kích thước (5 x 0,5)cm; Mặt trước thanh kim loại của tay lái bên trái có vết mài sát kim loại, chiều hướng từ sau ra trước, kích thước (16 x 0,5)cm; Mặt trên thanh kim loại của tay lái bên trái có 02 vết mài trượt, bám dính màu đen (nghi cao xu) chiều hướng từ sau ra trước, vết ngoài có kích thước (4 x 0,1)cm, vết trong kích thước (1,7 x 0,15)cm.
* Khám nghiệm tử thi Lương Đình C, sinh năm 1946 ở thôn X, xã X, huyện Y. tỉnh Bắc Giang:
Vùng trán trái có vết bầm tím, sây sát da kích thước (6,5 x 6)cm; Xung quanh vùng tai trái có vết bầm tím da kích thước (6,5 x 5)cm; Mặt sau cẳng tay phải có diện bầm tím sây sát da kích thước (9 x 3)cm; Mặt sau ngoài cẳng tay trái có diện bầm tím sây sát da kích thước (20 x 9)cm; Gối phải có vết sây sát da kích thước (2x0,5)cm; Đùi, gối trái có diện sây sát da kích thước (16 x 14)cm; Mặt trong bàn chân trái có diện bầm tím sây sát da kích thước (4,5 x 4)cm; Mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải có diện bầm tím da kích thước (3 x 2)cm; Hố chậu trái có diện sây sát da kích thước (2 x 1,5)cm; Vùng chẩm trái sát đường giữa có vết sây sát da kích thước (3 x 2,5)cm; Vùng lưng, mông hai bên có diện bầm tím, sây sát da kích thước (19 x 9)cm; Mặt sau cẳng chân phải có diện bầm tím rách da kích thước (20 x 11)cm. Mặt sau cẳng chân trái có diện bầm tím, sây sát da kích thước (9x7)cm.
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 1581/KLGĐTT-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Lương Đình C do chấn thương sọ não: Tụ máu ngoài màng cứng bán cầu não trái.
Ngày 11/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết. Tại Bản kết luận giám định số 1737/KL-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết gãy vỡ, trượt xước sơn, nhựa, cao su tại mặt dưới ốp nhựa bên phải xe, đèn xi nhan trước bên phải và dây ga của xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 27, 28 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại khung tay lái và tay nắm bên trái của xe đạp, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 5 đến 9 bản ảnh khám phương tiện).
Dấu vết chùn cong, mài trượt nhựa, kim loại, bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu, tổ chức mô cơ thể) và sợi màu đen tại cụm đèn chiếu sáng, giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 15, 25, 26) bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày (như cơ thể người) tạo nên.
- Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020 gồm: Gương chiếu hậu, đầu tay lái, ốp nhựa đầu xe, đèn xi nhan trước, để chân trước được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẫn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường, đồng thời tạo nên hệ thống dấu vết cày xước số 2 và số 3 trên hiện trường.
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020 với xe đạp trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 2 và số 3, thuộc chiều chuyển động bên phải, theo hướng xã X đi cầu B.
- Ngoài dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020 với xe đạp, không xác định được hai phương tiện gửi giám định có va chạm với phương tiện nào khác hay không, do sau khi xảy ra tai nạn, các chi tiết nhựa, kim loại trên hai phương tiện vỡ khuyết, biến dạng.
- Tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020 chuyển động theo hướng xã X đi cầu B va chạm với xe đạp ở phía trước, bên phải, trong tư thế đứng.
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.
Ngày 31/7/2024, Dương Văn O đã giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Văn O; 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô biển kiểm soát 98Y1-9020.
Ngày 30/10/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả Dương Văn O đã tự mình diễn tả thành thục các động tác khi điều khiển xe mô tô va vào người ông C.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 10/7/2024, Dương Văn O đã bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000đ. Anh Lương Ngọc A, sinh năm 1981 ở thôn X, xã X, huyện Y đại diện cho gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho O.
Về vật chứng vụ án: Ngày 30/10/2024, cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98Y2- 9020; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm cho Dương Văn O; 01 chiếc xe đạp cho anh Lương Ngọc A. Số vật chứng còn lại gồm 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Văn O được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, Dương Văn O đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 120/CT -VKSYD ngày 20/11/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn O về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Dương Văn O khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Văn O từ 16 tháng đến 20 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách tù 32 tháng đến 40 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Văn O cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Văn O cho bị cáo Dương Văn O sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Về án phí: Bị cáo Dương Văn O phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt họ.
[2]. Về hành vi theo bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 20/6/2024, Dương Văn O, sinh năm 1973 ở thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98Y1- 9020 đi trên đường T hướng xã X đi cầu B. Khi đi đến Km 8+450m tỉnh lộ 299 thuộc thôn X, xã X, huyện Y, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 2 Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, nên O đã để xe mô tô do mình điều khiển lao vào phía sau người ông Lương Đình C, sinh năm 1946 ở thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang dắt xe đạp đi bộ phía trước bên phải, hướng cùng chiều. Hậu quả, ông C bị thương, đến rạng sáng ngày 21/6/2024 thì bị chết.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Dương Văn O phạm tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 49/CT -VKSYD ngày 26/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với Dương Văn O là đúng người, đúng tội.
[3]. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông. Do vậy việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết.
[4]. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn O có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Văn O không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, khai báo thành khẩn, bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết bắt bị cáo chịu hình phạt tù, mà cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát thì bị cáo cũng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra cũng thể hiện được chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ tai nạn, Dương Văn O cùng đại diện của gia đình bị hại tự thoả thuận bồi thường 100.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Văn O Hội đồng xét xử xét thấy đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8]. Về án phí: Bị cáo O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- Xử phạt: Bị cáo Dương Văn O 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Văn O cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Dương Văn O 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Văn O nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Dương Văn O phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Anh |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn O phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
