TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày: 05-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Cao
Bà Nguyễn Thị Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Trung H
(tên gọi khác: Không), sinh năm 2002 tại Long An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp C, xã N, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H1, sinh năm 1981 và bà Lê Thị L, sinh năm 1983; Bản thân bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;
Tiền án: 01
Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt Lê Trung H 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2024, chưa xóa án tích.
Nhân thân:
Bản án số 30/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt Lê Trung H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2021 (không có án tích thuộc trường hợp tại thời điểm bị kết án Lê Trung H chưa đủ 18 tuổi.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2024 đến 26/7/2024 chuyển tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện B cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Đỗ Anh T, sinh năm 1993
Địa chỉ: P, nhà trọ Ú, Khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Châu Minh T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp 2, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
2. Ông Nguyễn Chí T2, sinh năm 2003
Địa chỉ: Số D đường N, Khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
3. Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số C Khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/7/2024, Lê Trung H đi từ nhà đến nhà Nguyễn Chí T2, địa chỉ Khu B, Khu phố H, thị trấn B hỏi mượn tiền nhưng T2 không cho mượn. H nhờ T2 chở về nhà dùm nên T2 đi qua phòng trọ của người bạn tên Tâm A (cách nhà T2 khoảng 300m) mượn xe mô tô nhưng Tâm A không cho nên H đi bộ về nhà. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/7/2024, trên đường về H nhìn thấy 01 xe mô tô, biển số 84L1-345.48 của Đỗ Anh T đang dựng cặp vách tường phòng trọ số 59, Nhà Ú, địa chỉ Khu phố H, thị trấn B xe không khóa cổ, không có người trông coi. H nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền tiêu xài nên đi lại và đẩy xe mô tô biển số 84L1-345.48 ra đường B, dừng lại bứt dây điện, nổ máy xe chạy đến tiệm game bắn cá Khu phố D, thị trấn B gặp Châu Minh T1 nói T1 cầm xe giá 1.800.000đồng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 19/7/2024, anh Đỗ Anh T đến Công an thị trấn B trình báo mất xe, ngày 20/7/202 Công an mời H về trụ sở làm việc thì H khai nhận hành vi trộm xe một biển số 84L1-345.48.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tạm giữ và chứng và xử lý như sau:
- Tạm giữ của Lê Trung H: 01 áo sơ mi dài tay màu nâu sọc trắng đen, 01 quần vải dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen, ký hiệu VL sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 xe mô tô biển số 84L1-345.48 do Châu Minh T1 giao nộp, xe mô tô biển số 84L1-345.48 thuộc sở hữu của anh Đỗ Anh T, hiện CQĐT đã trả lại cho anh T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐG ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: 01 xe mô tô loại Sirius màu xanh-đen, biển số 84L1-345.48 giá trị là 6.500.000đồng.
Sau vụ việc xảy ra, Đỗ Anh T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu dân sự; Châu Minh T1 không yêu cầu Lê Trung H bồi thường số tiền 1.800.000đồng bỏ ra cầm xe.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Hành vi của bị cáo Lê Trung H bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng tội bị cáo, không oan.
Tại Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSBL ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Lê Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Trung H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lê Trung H không có việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Anh T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu dân sự; Châu Minh T1 không yêu cầu Lê Trung H bồi thường số tiền 1.800.000đồng bỏ ra cầm xe nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 xe mô tô biển số 84L1-345.48 do Châu Minh T1 giao nộp, xe mô tô biển số 84L1-345.48 thuộc sở hữu của anh Đỗ Anh T, hiện CQĐT đã trả lại cho anh T là phù hợp nên không đề cập xem xét.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu nâu sọc trắng đen, 01 quần vải dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen, ký hiệu VL sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
(các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/11/2024).
Đối với Châu Minh T1 không biết tài sản do bị cáo H phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/7/2024, bị cáo Lê Trung H trên đường đi bộ về nhà phát hiện xe mô tô, loại Sirius màu xanh, biển số 84L1-345.48 trị giá 6.500.000đ của Đỗ Anh T dựng cặp vách phòng trọ số 59 Nhà trọ Ú, Khu phố H, thị trấn B không người trông coi, bị cáo Hiếu lén lút trộm xe biển số 84L1- 345.48 đem cầm cho Châu Minh T1 được 1.800.000đ, tiêu xài hết.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 19/7/2024, Biên bản và Bản ảnh kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc ngày 19/7/2024, Biên bản trích xuất dữ liệu camera ngày 19/7/2024. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là tài sản của công dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Trung H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Trung H có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Trung H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là phù hợp với tính chất của vụ án và phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có lời trình bày không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Anh T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu dân sự; Châu Minh T1 không yêu cầu Lê Trung H bồi thường số tiền 1.800.000đồng bỏ ra cầm xe nên không đề cập xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 xe mô tô biển số 84L1-345.48 do Châu Minh T1 giao nộp, xe xe mô tô biển số 84L1-345.48 thuộc sở hữu của anh Đỗ Anh T, hiện CQĐT đã trả lại cho anh T là phù hợp nên không đề cập xem xét.
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu nâu sọc trắng đen, 01 quần vải dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen, ký hiệu VL của bị cáo Lê Trung H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
(các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/11/2024).
[8] Đối với Châu Minh T1 không biết tài sản do bị cáo H phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp nên không đề cập xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Lê Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trung H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu nâu sọc trắng đen, 01 quần vải dài màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu đen, ký hiệu VL.
(các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê Trung H phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nga |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trung Hiếu Đ 173
