|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hưng và bà Nguyễn Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn D (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 12/4/1985 tại huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi thường trú: xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Chỗ ở: khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 9/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: Phạm Văn Q (đã chết) và bà Đỗ Thị N (đã chết), vợ Phạm Thị N1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: anh Bùi Văn D1, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (là người đại diện hợp pháp cho bị hại đã chết anh Bùi Văn H1). Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn S, sinh năm 1963. Địa chỉ: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 13 phút, ngày 16/7/2024, Phạm Văn D (có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo RC, biển số 14K1-024.50 chở con trai là cháu Phạm Thiên P (sinh năm 2018, ngồi phía trước), đi trên đường T đoạn thuộc khu vực giáp ranh giữa khu T, phường N với khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, hướng từ Uỷ ban nhân dân (UBND) phường N đến cầu H, thành phố M. Khi đến khu vực quán bán hàng tạp hóa ở bên trái đường, theo hướng đi của D, D đã không chú ý quan sát, điều khiển xe mô tô chuyển hướng rẽ trái để sang quán tạp hóa và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ. Cùng lúc đó xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển số 14K1-335.10 do anh Bùi Văn H1, sinh năm 2008, trú tại: thôn N, xã V, thành phố M, điều khiển đi phía sau cùng chiều, không xử lý kịp, dẫn đến xe mô tô do anh H1 điều khiển đã đâm vào phần giảm xóc trước bên trái của xe mô tô biển số 14K1-024.50, làm xe mô tô của anh H1 bị mất lái, đổ trượt văng trên đường, rồi va đập vào phần đầu xe ô tô biển số 14A-157.32 do ông Bùi Văn S, sinh năm 1963, trú tại: khu H, phường N, thành phố M, điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả anh H1 bị tử vong, xe ô tô và 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường (theo hướng từ cầu Hòa Bình đến UBND phường N, thành phố M) trong điều kiện ban ngày, không mưa, mặt đường khô, ánh sáng tự nhiên, xác định (còn nguyên vị trí các dấu vết và các phương tiện có liên quan là xe mô tô biển số 14K1-335.10 và xe ô tô biển số 14A-157.32, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu, xe mô tô biển số 14K1-024.50 đã rời khỏi hiện trường) xác định: nơi xảy ra tai nạn tại đường T nằm trong khu vực đông dân cư, là đường hai chiều thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường trải bê tông nhựa phẳng, rộng 10m, giữa đường có vạch sơn đứt nét màu vàng, phân chia hai chiều đường, mỗi phần đường rộng 05m. Phía bên phải đường T giao nhau với đường N T, rộng 07m và trên vỉa hè đường bên phải có cột điện số (2.2).3.
Trên mặt đường bên phải có vùng vết cày xước mặt đường, không liên tục, dài 25,4m, điểm rộng nhất 0,8m, hướng UBND phường N (ký hiệu số 01), từ điểm đầu vết đến mép đường bên phải là 03m và đến cột điện số (2.2).3 là 4,4m, điểm cuối vết nằm tại trục giữa gầm xe mô tô biển số 14K1-335.10. Cách điểm đầu vết (số A) 11,4m, là tâm đám máu dạng chảy loang trên diện (0,5x0,3)m (ký hiệu số 02), hướng UBND phường N, từ tâm đám máu đến mép đường bên phải là 0,95m. Xe ô tô biển số 14A-157.32, đỗ trên phần đường bên phải, hơi chếch chéo so với trục đường, đầu xe hướng UBND phường N, đuôi xe hướng cầu Hòa Bình (ký hiệu số 03), từ tâm trục lốp trước và tâm trục lốp sau bên phải đến mép đường bên phải lần lượt là 2,0m và 2,3m, từ tâm trục lốp trước bên phải đến tâm đám máu (số B) là 2,6m. Tử thi là nam giới, nằm ngửa, duỗi thẳng hai chân, hai tay, đầu hướng cầu Hòa Bình, chân hướng UBND phường N (ký hiệu số 04), từ gót chân phải đến mép đường bên phải là 0,5m và đến tâm đám máu (số B) là 2,5m, từ giữa đỉnh đầu đến mép đường bên phải là 0,6m, vùng đầu có máu chảy loang vào đến mép đường. Xe mô tô biển số 14K1-335.10, nằm đổ nghiêng bên trái, thân xe hơi chếch chéo so với trục đường, đầu
xe hướng cầu H, đuôi xe hướng mép đường bên phải (ký hiệu số 05), từ tâm trục lốp trước và tâm trục lốp sau đến mép đường bên phải lần lượt là 1,4m và 0,7m, từ tâm trục lốp sau đến tâm trục lốp sau bên phải xe ô tô biển số 14A-157.32 là 8,8m.
Khám xe mô tô biển số 14K1-335.10, xác định: vành trước bên phải bị mài xước kim loại, kích thước (04x01)cm; cánh yếm bên phải bị mài xước nhựa, kích thước (08x01)cm, góc dưới yếm có vết trầy xước nhựa, hướng từ trước về sau, kích thước (03x0,5)cm; mặt ngoài lốc máy bên phải bị trầy xước kim loại, hướng từ trước về sau, kích thước (02x1,5)cm; cần phanh chân bị cong vênh, hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, cạnh phía trước và cạnh phía ngoài bàn đạp phanh chân có vết mài xước kim loại, bám dính (dạng dầu nhớt) kích thước (03x0,5)cm, hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 25cm; giá để chân trước bên phải bị cong vênh, hướng từ trước về sau, mất vỏ bọc cao su; ốp bô bị mài xước kim loại, bám dính bụi đất, kích thước (07x06)cm.
Khám xe mô tô biển số 14K1-024.50, xác định: mặt ngoài phía dưới ốp nhựa yếm xe bên trái bị trượt xước nhựa, mất bụi đất, bám dính chất màu đen (dạng cao su), kích thước (05x04)cm, hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách đất 24cm; mặt sau đầu dưới càng giảm xóc trước bên trái có vết trượt xước kim loại, mất bụi đất và chất màu đen (dạng dầu nhớt), kích thước (03x01)cm, hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách đất 25cm; mặt sau đầu bu lông trục lốp trước bên trái có vết trượt xước kim loại, mất bụi đất và chất màu đen (dạng dầu nhớt), kích thước (03x01)cm, hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách đất 24cm; má ngoài bên trái lốp trước và vành xe liền kề có vết trượt cao su và kim loại, mất bụi đất kích thước (5,5x3,5)cm, hướng từ mặt lăn vào tâm trục.
Khám xe ô tô biển số 14A-157.32, xác định: ba đờ sốc trước bên phải, phía dưới bị móp méo, vỡ nhựa, hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, kích thước (13x02)cm, bề mặt bám dính chất bẩn, chất màu đỏ nghi máu và tóc; kính sau cửa bên phải bị vỡ, kích thước (63x44)cm, phần nhựa phía trên (vè che mưa) bị vỡ kích thước (29x01)cm.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, phương tiện đã thu giữ 01 đoạn video (camera giám sát hành trình của xe ô tô biển số 14A-157.32) do ông Bùi Văn S giao nộp, nội dung được xác định là hình ảnh diễn biến xảy ra vụ tai nạn.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 223/KLGĐTT-TTPY ngày 17/7/2024, của Trung tâm P2 kết luận: nguyên nhân anh Bùi Văn H1 tử vong do chấn thương sọ não hở, dập não, mất não, chết não.
Tại bản Kết luận giám định độc chất số 283/KLGĐĐC-TTPY ngày 17/7/2024, của Trung tâm Pháp y - Sở P2, kết luận: có tìm thấy E (cồn) trong mẫu máu của anh Bùi Văn H1, với hàm lượng 123,85mg/100ml.
Tại bản kết luận giám định số 1353/KL-KTHS ngày 28/8/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng dầu nhớt), cong vênh, biến dạng ở phanh chân xe mô tô biển số 14K1-335.10, có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, phù hợp với dấu vết
hình thành khi va chạm làm trượt, xước kim loại, mất bụi đất và chất màu đen (dạng dầu nhớt) ở mặt sau đầu giảm sóc trước bên trái, mặt sau bu lông trục trước bên trái xe mô tô biển số 14K1-024.50. Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 14K1-024.50, tại vị trí này có chiều từ sau về trước; dấu vết trượt, nứt, vỡ nhựa bám dính tóc và chất màu đỏ (dạng máu) ở mặt ngoài bên trái ba đờ sốc trước xe ô tô biển số 14A-157.32, có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, phù hợp với dấu vết hình thành khi va chạm với cơ thể nạn nhân.
Tại biên bản xác định thiệt hại về tài sản của Công an thành phố M, xác định: xe ô tô biển số 14A-157.32, bị hư hỏng thiệt hại 3.700.000 đồng; xe mô tô biển số 14K1-335.10, bị hư hỏng thiệt hại 1.320.000 đồng.
Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do Phạm Văn D điều khiển xe mô tô biển số 14K1-024.50, không chú ý quan sát, chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ, đã gây tai nạn cho xe mô tô biển số 14K1-335.10 do anh Bùi Văn H1 điều khiển đi phía sau cùng chiều, đã vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.
Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Văn D1 trình bày: anh là chú ruột của bị hại Bùi Văn H1 và được gia đình bị hại ủy quyền để giải quyết vụ việc. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/7/2024 thì nhận được thông tin cháu H1 điều khiển xe mô tô biển số 14K1-335.19 của chị Vy Thị P1 là mẹ đẻ H1, đi từ V đến phường T để làm thì xảy ra tai nạn giao thông tại đường T, phường N, thành phố M dẫn đến H1 bị tử vong.
Sau khi tai nạn xảy ra anh và gia đình biết nguyên nhân là do Phạm Văn D, trú tại: khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh điều khiển xe máy cùng chiếu khi sang đường không xi nhan, không quan sát làm xe mô tô của H1 đâm vào xe của D rồi ngã ra đường va vào xe ô tô biển số 14A-157.32 do ông Bùi Văn S điều khiển dẫn đến tử vong. Do đó, bản thân D và gia đình cũng đã thỏa thuận bồi thường số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình anh H1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo D.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn S có lời khai: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/7/2024 ông một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota biển số 14A-157.32 đi từ hướng trung tâm thành phố M về nhà ở khu H, phường N, thành phố M. Khi ông S đi đến đoạn đường T thuộc khu T, phường N, thành phố M thì thấy 01 nam thanh niên (sau này biết tên Bùi Văn H1) điều khiển 01 chiếc xe mô tô chạy với tốc độ cao đi ngược chiều với xe ô tô của ông va chạm với 01 xe mô tô khác cùng chiều với xe của H1. Sau khi va chạm H1 ngã ra và xe của H1 tiếp tục va chạm vào phần đầu xe ô tô của ông, ông S đỗ xe lại và xuống xem thì thấy H1 bị thương ở phần đầu chảy nhiều máu mọi người đến xem và bảo H1 đã tử vong. Toàn bộ hình ảnh của vụ tai nạn giao thông đã được camera hành trình xe ô tô của ông ghi lại. Quan điểm của ông xe ô tô của ông bị hưng hỏng không đáng kể nên ông không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số 2343/CT-VKSMC, ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Phạm Văn D 01 giấy phép lái xe số No310111001275 do Sở giaothông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 22/8/2016 mang tên Phạm Văn D.
Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn D khai nhận điều khiển xe mô tô biển số 14K1-024.50 chở con trai là cháu Phạm Thiên P sang đường không chú ý quan sát, điều khiển xe mô tô chuyển hướng rẽ trái để sang quán tạp hóa và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ. Hậu quả làm bị hại là anh Bùi Văn H1, sinh năm 2008 điều khiển xe mô tô biển số 14K1-335.10 điều khiển đi phía sau cùng chiều, không xử lý kịp, dẫn đến xe mô tô do anh H1 điều khiển đã đâm vào phần giảm xóc trước bên trái của xe mô tô biển số 14K1-024.50 của D, làm xe mô tô của anh H1 bị mất lái, đổ trượt văng trên đường, rồi va đập vào phần đầu xe ô tô biển số 14A-157.32 do ông Bùi Văn S điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả anh H1 bị tử vong, xe ô tô và 02 xe mô tô bị hư hỏng. Bị
cáo nhận thức hành vi điều khiển phương tiện giao thông khi tham gia giao thông không tuân thủ luật giao thông dẫn đến tai nạn nghiêm trong, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
[3] Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 13 phút ngày 16/7/2024, tại đường T đoạn thuộc khu vực giáp ranh giữa khu T, phường N với khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn D (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 14K1-024.50 do không chú ý quan sát, chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ, nên đã gây tai nạn cho xe mô tô biển số 14K1-335.10 do anh Bùi Văn H1 điều khiển đi phía sau cùng chiều, làm anh H1 ngã văng vào xe ô tô biển số 14A-157.32 do ông Bùi Văn S điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả làm anh Hoàng tử V, xe mô tô biển số 14K1-335.10 bị hư hỏng thiệt hại 1.320.000 đồng, xe ô tô biển số 14A-157.32, bị hư hỏng thiệt hại 3.700.000 đồng.
[4] Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người.”
Hành vi của bị cáo Phạm Văn D là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm an toàn giao thông công cộng và trật tự công cộng.
Bị cáo Phạm Văn D trong quá trình điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ về chuyển hướng xe rẽ trái không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ và không quan sát phía sau khi cho xe rẽ, vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do đó, đã gây tai nạn làm anh Bùi Văn H1 tử vong, xe mô tô bị hư hỏng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Tình tiết tăng nặng: không có
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tiền án, tiền sự chưa có, sau khi phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, người đại diện bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét cũng một phần lỗi của bị hại là sử dụng rượu, bia trong khi tham gia giao thông và chưa có giấy
phép lái xe theo quy định. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì thế, cần giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà để chính quyền địa phương và gia đình bị cáo giám sát giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự có thể phạt hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe. Tuy nhiên, bị cáo không hành nghề lái xe chuyên nghiệp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời gian nhất định.
[7] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 14K1-335.10 đứng tên đăng ký Vy Thị P1 (là mẹ đẻ của H1) nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 14K1-024.50, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Quá trình điều tra còn tạm giữ của bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe số No 310111001275 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 22/8/2016 mang tên Phạm Văn D. Xét không cấm bị cáo hành nghề lại xe nên trả lại cho bị cáo.
[8] Về bồi thường dân sự: trong quá trình điều tra bị cáo và gia đình bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9] Đối với hành vi của ông Bùi Văn S, người điều khiển xe ô tô biển số 14A-157.32 là sự kiện bất ngờ, nên không cấu thành tội phạm.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Văn D phải chịu theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn D 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Phạm Văn D cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 668/2024/LC-ĐTTH, ngày 09/9/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 1237/2024/QĐ-ĐTTH, ngày 09/9/2024 của Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Phạm Văn D.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Phạm Văn D 01 giấy phép lái xe số No310111001275 do Sở giaovận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 22/8/2016 mang tên Phạm Văn D.
- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 15 tháng tù
