Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 11 -2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Giới

2. Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên

Ngày 29/11/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 109/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2021 đối với bị cáo:

Điểu Siêng, sinh năm 1999 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Đ, Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Stiêng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Điểu N, sinh năm 1964 và bà Thị O, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 11/7/2017, bị TAND huyện Đồng Phú xử phạt 06 năm tù về tội Hiếp dâm; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1998 “Có yêu cầu vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Cao Thị Bích L, sinh năm 1988 “Có yêu cầu vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước.

- Người làm chứng:

Chị Lê Thị Thanh N1, sinh năm 1988 “Vắng mặt”.

Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 23/8/2024, Điểu S đi từ lô cao su thuộc ấp A, xã Đ, huyện Đ đi đến nhà bà Nguyễn Thị Kim A thì phát hiện bên cạnh nhà có 01 xe mô tô biển số 93YA-010.29 của chị Phạm Thị Kim T đang cắm sẵn chìa khoá, không có người quản lý nên S nảy sinh ý định trộm xe. Điểu S đi đến rồi điều khiển xe mô tô chạy đến địa phận thôn B, xã B, huyện P, vào quán nước của chị Cao Thị Bích L để uống nước. Tại đây, S nói với L là xe của bố ruột và đang cần tiền nên muốn bán chiếc xe trên với giá 10.000.000đ, do đang cần xe để chở củi nên chị L đồng ý và trả cho S 10.000.000đ. S đã sử dụng số tiền trên mua 01 xe mô tô biển số 19B1-743.90, 01 điện thoại di động để sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất xe, chị Phạm Thị Kim T đã đến Cơ quan Công an trình báo. Tại Cơ quan Công an, Điểu S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/8/2024: 1 xe mô tô biển số 93YA-010.29 trị giá 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số 122/CT-VKS ngày 24/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Điểu S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điểu S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, khoản 1 Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu S mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tuyên buộc bị cáo Điểu S bồi thường cho chị Cao Thị Bích L số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị Phạm Thị Kim T 01 xe mô tô biển số 93YA-010.29 nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ; tịch thu, hoá giá, sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 49B1-743.90, nhãn hiệu Kymco, loại xe Like màu xám, 01 điện thoại di động Oppo màu xanh;

Tịch thu, tiêu huỷ 01 quần thun dài màu đen, 01 đôi dép màu đen;

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan; bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Ngày 23/8/2024, khi đi bộ từ rẫy cao su thuộc ấp A, xã Đ, huyện Đ đến nhà bà Nguyễn Thị Kim A, Điểu S phát hiện 01 xe mô tô biển số 93YA-010.29 nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ có cắm sẵn chìa khoá không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Điểu S điều khiển xe mô tô trên đến quán nước của chị Cao Thị Bích L và bán chiếc xe trên cho chị L với giá 10.000.000đ, số tiền có được Siêng mua 01 xe mô tô, 01 điện thoại di động và tiêu xài cá nhân hết.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐGTTTHS, ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 23/8/2024: 1 xe mô tô biển số 93YA-010.29 trị giá 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự ra trước phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với chị Cao Thị Bích L là người mua xe của bị cáo Điểu S: Tại thời điểm mua xe thì chị L không biết nguồn gốc chiếc xe là tài sản do bị cáo S phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

[3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo đã thành niên, đang trong độ tuổi lao động, bị cáo có thể tự tìm kiếm cho mình một công việc phù hợp với năng lực và sức khỏe để mang lại thu nhập hợp pháp; bị cáo cũng hoàn toàn nhận thức được chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất và hậu quả mà hành vi của bị cáo đã gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 11/7/2017, bị TAND huyện Đồng Phú xử phạt 06 năm tù về tội Hiếp dâm, tính đến ngày phạm tội lần này thì bị cáo chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và mục đích phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 49B1-743.90, nhãn hiệu Kymco, loại xe Like màu xám và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh là tài sản có được do phạm tội mà có nên cần tịch thu, hoá giá, sung ngân sách Nhà nước.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 93YA- 010.29 là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị Kim T nên cần trả lại cho chị T;

Đối với 01 quần thun dài màu đen và 01 đôi dép màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo Điểu S, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Bích L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Điểu S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2024.

- Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự 2015

Buộc bị cáo Điểu S phải bồi thường thiệt hại cho chị Cao Thị Bích L số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, hoá giá, sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 49B1-743.90, nhãn hiệu Kymco, loại xe Like màu xám, số máy KN25DA000660, số khung J310AA000660 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh.

Trả lại cho chị Phạm Thị Kim T xe mô tô biển kiểm soát 93YA- 010.29, số máy JA70E0458605, số khung RLHJA3931RY137463

Tịch thu, tiêu huỷ 01 quần thun dài màu đen và 01 đôi dép màu đen.

- Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Điểu S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Điểu S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Đối với bị hại Phạm Thị Kim T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Bích L do vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo bản án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

- TAND tỉnh Bình Phước;

- VKSND huyện Đồng Phú;

- Bị cáo và đương sự;

- Bộ phận HSNV CA Đồng Phú;

- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Đồng Phú;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Điểu S trộm cắp xe máy của chị Phạm Thị Kim T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger