|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 120/2024/HS-ST Ngày 27 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Vịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Chiến T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 17 tháng 10 năm 1990 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình N và bà Trần Thị H; có vợ là: Giáp Thị T1 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị Toà án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt 09 tháng tù giam về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 18/02/2011 chấp hành xong bản án; bị giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 16/6/2024, tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 25/6/2024, tạm giam từ ngày 25/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1957; địa chỉ: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Đoàn Hữu B, sinh năm 1952; địa chỉ: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 16/6/2024 tại số nhà B, khu C, phường Q, thị xã Q, Công an thị xã Q kiểm tra hành chính nơi ở của Vũ Chiến T có địa chỉ như trên. Quá trình kiểm tra, thu giữ tại chân giường trong phòng ngủ của Vũ Chiến T 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống hút màu trắng và 01 ống thuỷ tinh có bầu tròn bên trong bám dính tinh thể màu trắng; thu giữ tại cửa sổ sát giường ngủ của Vũ Chiến T 01 hộp sắt bên trong có 04 túi nilon đều chứa dính chất tinh thể màu trắng; 05 túi nilon đều bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 vỏ túi nilon; 01 ống hút màu trắng được cắt nhọn một đầu có bám dính chất tính thể màu trắng và 01 bật lửa gắn đầu đốt bằng kim loại. Vũ Chiến T khai chất tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” Methamphetamine và bộ D T cất giấu để bản thân sử dụng ma tuý.
Tại Kết luận giám định số 921/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Vũ Chiến T gửi giám định đều là ma tuý; Loại Methamphetamine; Có tổng khối lượng là 0,421 gam.
Cáo trạng số 2925/CT-VKSQY ngày 04/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Vũ Chiến T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:
- - Căn cứ: điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Vũ Chiến T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/6/2024. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
- - Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc hộp sắt; 01 bật lửa; 01 chai nhựa có gắn ống hút nhựa; 01 ống thuỷ tinh có bầu tròn; 01 ống hút nhựa; các vỏ bao nilon và ma tuý hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 921/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Chiến T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 10/6/2024, T đến khu vực phường S, quận H, thành phố Hải Phòng mua 1.000.000 đồng tiền ma tuý Methamphetamine của một người không quen biết sau đó mang về nhà rồi một mình sử dụng hết, còn lại các vỏ túi nilon bám dính ma tuý T để lại trong chiếc hộp sắt ở cửa sổ phòng ngủ. Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2024, T lại đến địa chỉ như trên mua 1.500.000 đồng ma tuý Methamphetamine của một người không quen biết sau đó mang về nhà cho vào bộ dụng cụ và sử dụng một phần, lượng ma tuý còn lại T chia thành 04 túi nilon nhỏ rồi cất vào chiếc hộp sắt ở cửa sổ để sử dụng dần thì bị Công an thị xã Q phát hiện, thu giữ khi kiểm tra hành chính.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn C và ông Đoàn Hữu B có lời khai trong quá trình điều tra có trong hồ sơ thể hiện phù hợp với nội dung biên bản kiểm tra hành chính, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Chiến T thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Chiến T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của người chứng kiến và nội dung biên bản kiểm tra hành chính, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 16/6/2024 tại khu C, phường Q, thị xã Q, Vũ Chiến T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,421 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị kiểm tra, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Chiến T đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
[3.1]Hình phạt chính:
- - Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu: Năm 2010 bị Toà án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt 09 tháng tù giam về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.
[3.2] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu vật ma tuý hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 921/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 chiếc hộp sắt; 01 bật lửa; 01 chai nhựa có gắn ống hút nhựa; 01 ống thuỷ tinh có bầu tròn; 01 ống hút nhựa; các vỏ bao nilon, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các tình tiết khác trong vụ án:
Đối với các đối tượng bán ma túy cho bị cáo Vũ Chiến T tại thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
[6]Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7]Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố: bị cáo Vũ Chiến T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Xử phạt bị cáo Vũ Chiến T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 16/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc hộp sắt bát giác màu xanh; 01 (Một) bật lửa có gắn đầu đốt bằng kim loại; 01 (Một) chai nhựa trên nắp gắn ống hút nhựa và 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 921/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q.
- (Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 15 giờ, 00 phút, ngày 04 tháng 11 năm 2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ: khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Chiến Thắng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
