Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thị Amina;
  2. Ông Nguyễn Văn Thượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị N, sinh ngày 08-9-1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Châu B và bà Nguyễn Thị H; có chồng tên Nguyễn Văn M, sinh năm 1993; con có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06 tháng 7 năm 2024 cho đến nay; có mặt.

2. Huỳnh Hoài V, sinh ngày 15-4-1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc T; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự số 30/2016/HS-ST, ngày 28-4-2016 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-01-2016, chấp hành xong án phí hình sự ngày 04-8-2016, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 06-01-2017; Tại Bản án hình sự số 51/2017/HS-ST, ngày 24-8-2017 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-5-2017, chấp hành xong án phí hình sự và dân sự sơ thẩm vào ngày 11-01-2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23-4-2019 (đã được xoá án tích); bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27-6-2024 đến ngày 06-7-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt;

3. Hoàng Minh K, sinh ngày 21-10-2000, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Minh T1 và bà Hoàng Thị Diễm H2; vợ tên Mai Quế C, sinh năm 2002; con có 01 người sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27-6-2024 đến ngày 06-7-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Hoàng Thị T2, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có chất ma túy để sử dụng nên vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 25-6-2024, Huỳnh Hoài V bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng rủ Hoàng Minh K đi mua ma túy cùng nhau sử dụng, K đồng ý. K điều khiển xe môtô biển số 70K1-711.14 chở V đến nhà Nguyễn Thị N thuộc ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh để mua ma túy. Khi đến nơi, do K quen biết với N nên V đứng chờ ở ngoài đường, còn K vô nhà gặp N hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng và xin N 01 cái nỏ thủy tinh để mang về nhà sử dụng ma túy, thì N đồng ý. Sau đó, N đi ra phía sau nhà lấy ma túy và 01 cái nỏ thủy tinh mang ra phía trước bán cho K. Sau khi mua được ma túy, K đem ma túy vừa mua được đưa cho V và chở V đến vườn cao su thuộc khu vực ấp D, xã S, huyện T, để cùng nhau sử dụng ma túy. Tại đây, V đem bộ dụng cụ để sử dụng ma túy do V đã chuẩn bị từ trước, gồm: 01 cái nỏ thủy tinh, 01 cái ly thủy tinh, 01 cái nắp nhựa, 01 ống hút nhựa được lắp sẵn và bịch nylon chứa ma túy đưa cho K, K lấy ống hút chiết một ít ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh và dùng quẹt gas đốt nấu ma túy chảy ra để cả hai cùng sử dụng ma túy. Số ma túy còn lại trong bịch nylon K đưa lại cho V cất giữ. Sau khi cùng nhau sử dụng hết ma túy trong nỏ thủy tinh thì K chở V về nhà K uống mỗi người 03 lon bia rồi K chở V về nhà. Khi đến nhà V, V có đưa cho K một ít ma túy để K về nhà để sử dụng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, K đã sử dụng hết số ma túy Vui cho. Đến khoảng 10 giờ ngày 26-6-2024, Công an xã S mời V và K lên làm việc. Tại phiếu kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể ngày 26-6-2024 của Công an xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh thể hiện V và K đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Đến khoảng 18 giờ 05 phút, ngày 27-6-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Ngọc N1 tại ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, kết quả đã thu giữ: 01 đoạn ống hút bằng nhựa bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 02 túi nylon loại túi zip bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng cùng nhiều vật chứng khác có liên quan.

Quá trình điều tra đã xác định được Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K trước đó đã 03 lần mua ma túy của Nguyễn Thị N để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:

  • Lần nhất: Vào khoảng giữa tháng 6-2024 (không nhớ ngày), V bỏ ra số tiền 200.000 đồng rủ K mua ma túy về cùng nhau sử dụng, K đồng ý. K sử dụng xe mô tô biển số 70K1- 711.14 chở V đến nhà N. Khi đến nơi, V chờ ở ngoài đường và đưa cho K số tiền 200.000 đồng vào nhà gặp Nguyễn Thị N mua ma túy. Sau khi K mua được ma túy, V và K đi đến vườn cao su thuộc khu vực ấp D, xã S, huyện T, cùng nhau tổ chức sử dụng hết số ma túy đã mua được.
  • Lần hai: Cách lần thứ nhất khoảng 01 đến 02 ngày (không nhớ ngày cụ thể), V bỏ ra số tiền 200.000 đồng rủ K mua ma túy về cùng nhau sử dụng, K đồng ý. K sử dụng xe mô tô biển số 70K1- 711.14 chở V đến nhà N. Khi đến nơi, V chờ ở ngoài đường và đưa cho K số tiền 200.000 đồng vào nhà gặp N mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, V và K đi đến khu vực vườn cao su thuộc khu vực ấp D, xã S, huyện T, cùng nhau tổ chức sử dụng hết số ma túy đã mua được rồi cả hai đi về.
  • Lần thứ ba: Cách lần thứ hai khoảng 01 đến 02 ngày (không nhớ ngày), V bỏ ra số tiền 200.000 đồng rủ K mua ma túy về cùng nhau sử dụng, K đồng ý. K sử dụng xe mô tô biển số 70K1- 711.14 chở V đến nhà N. Khi đến nơi, V chờ ở ngoài đường và đưa cho K số tiền 200.000 đồng vào nhà gặp N mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, V, K đi đến khu vực vườn cao su thuộc khu vực ấp D, xã S, huyện T, cùng nhau tổ chức sử dụng hết số ma túy đã mua được rồi cả hai đi về.

Ngoài những lần bán ma túy cho K, Nguyễn Thị N còn bán ma túy cho hai người thanh niên không rõ nhân thân, lại lịch với giá 200.000 đồng. Vào khoảng đầu tháng 6-2024 (không nhớ ngày), N bán cho Hoàng Công T3, sinh năm 1990, ngụ ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 01 bịch ma tuý với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy, T3 mang về sử dụng một mình hết số ma túy đã mua.

Về nguồn gốc ma túy Nguyễn Thị Ngọc mua của một người đàn ông tên anh B1 (không rõ nhân thân, lại lịch) với số tiền 6.000.000 đồng vào khoảng đầu tháng 6/2024 tại khu vực xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đến thời điểm hiện tại không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đủ cơ sở đề xuất xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V và Hoàng Minh K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Kết quả giám định:

  • Tại Kết luận giám định số 1294/KL-KTHS, ngày 03-7-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 (một) bịch nylon hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,0601 gam; Bên trong 01 (một) cái nỏ thủy tinh (kí hiệu M2) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng không xác định vì mẫu tồn tại dạng vi vết (thu của Huỳnh Hoài V).
  • Tại Kết luận giám định số 1307/KL-KTHS, ngày 04-7-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 (một) đoạn ống hút gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng: 0,0987 gam. Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 01 (một) bịch nylon gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng: 3,6952 gam. Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3) bên trong 01 (một) bịch nylon gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng: 8,6891 gam. Tổng khối lượng ma túy là 12,483 gam (thu của Nguyễn Thị N).

* Vật chứng đang tạm giữ:

  • 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1294/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) cái hột quẹt gas; 01 (một) ly thủy tinh có gắn nắp nhựa và ống hút nhựa; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 0,0659 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 3,6289 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 8,6160 gam; 03 (ba) túi nylon loại túi zip; 07 (bảy) đoạn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon đen đựng 28 túi zíp chưa qua sử dụng; 04 (bốn) nỏ thủy tinh;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số: 70K1-711.14 số khung: RLHJA3924MY428183; số máy: JA39E-2453421.

* Kết quả kê biên tài sản: Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K, Nguyễn Thị N không có tài sản, nên không tiến hành kê biên.

Tại Bản cáo trạng số 118/CT-VKSTC, ngày 16-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị:

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K, mỗi bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

- Các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 25-6-2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N1 ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo N đã có hành vi bán 01 (một) bịch ma túy với giá 1.000.000 đồng cho bị cáo Hoàng Minh K khi bị cáo K đến nhà để hỏi mua ma tuý. Ngoài ra, bị cáo N còn khai nhận từ đầu tháng 06-2024 đến trước ngày 25-6-2024, bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi bán ma tuý cho nhiều đối tượng trên địa bàn huyện T, cụ thể: Bán cho bị cáo Hoàng Minh K tổng cộng 03 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng; bán cho Hoàng Công T3 01 lần với số tiền 200.000 đồng. Quá trình điều tra mở rộng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị N, kết quả đã thu giữ: 01 đoạn ống hút bằng nhựa bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 02 túi nylon loại túi zip bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng cùng nhiều vật chứng khác có liên quan. Tổng số tiền bị cáo N thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma tuý là 1.800.000 đồng, chất ma tuý thu giữ của N loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 12,5431 gam. Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo Hoàng Minh K, Huỳnh Hoài V. Do đó, có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” và “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Vào ngày 25-6-2024, sau khi mua được ma tuý từ bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo Hoàng Minh K đã cùng với bị cáo Huỳnh Hoài V tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại vườn cao su thuộc khu vực ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trong đó, tiền mua ma tuý và bộ D sử dụng ma tuý là của bị cáo V; bị cáo K trực tiếp đi mua ma tuý và lấy ống hút chiết ma tuý bỏ vào nỏ thuỷ tinh, dùng quẹt gas đốt nấu ma tuý để sử dụng với bị cáo V. Chất ma tuý K và V dùng để sử dụng thu giữ được là loại Methamphetamine, khối lượng 0,0601 gam. Ngoài lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 25-6-2024, các bị cáo V, K còn 03 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại vườn cao su thuộc ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nên hành vi của các bị cáo Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Do đó Bản cáo trạng số 118/CT-VKSTC, ngày 16-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng quy định của pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, nên phải áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị N là đối tượng cầm đầu mua ma túy về chia nhỏ ra bán lại cho các con nghiện nhằm thu lợi bất chính. Nên bị cáo N phải chịu mức án cáo hơn bị cáo V, K về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Huỳnh Hoài V là người khởi xướng bỏ tiền, chuẩn bị dụng cụ, lôi kéo bị cáo Hoàng Minh K đi mua ma túy để về sử dụng, hơn nữa bị cáo V đã bị kết án hai lần mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo V phải chịu mức án cao hơn bị cáo K.

Đối với bị cáo K sau khi bị cáo V rủ rê đã đi mua ma túy về để sử dụng nên cần xử bị cáo mức án tương xướng với hành vi phạm tội của bị cáo nhưng thấp hơn bị cáo V.

[5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

[5.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình và tự thú hành vi phạm tội của mình khi chưa bị phát hiện. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình chính là phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xét thấy các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

  • 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1294/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) cái hột quẹt gas; 01 (một) ly thủy tinh có gắn nắp nhựa và ống hút nhựa; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 0,0659 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 3,6289 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 8,6160 gam; 03 (ba) túi nylon loại túi zip; 07 (bảy) đoạn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon đen đựng 28 túi zíp chưa qua sử dụng; 04 (bốn) nỏ thủy tinh. Tất cả đều là vật chứng của vụ án và công cụ các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng mà bị cáo Nguyễn Thị N thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý cho các đối tượng nghiện ma túy, nên cần truy tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • 01 (Một) xe mô tô biển số: 70K1-711.14 số khung: RLHJA3924MY428183; số máy: JA39E-2453421 của chị Lê Hoàng Thị T2 là chủ sở hữu hợp pháp, khi bị cáo Hoàng Minh K sử dụng để đi mua ma túy thì chị Lê Hoàng Thị T2 không biết nên cần tuyên trả cho chị Lê Hoàng Thị T2.

[9] Đối với Hoàng Công T3 có hành vi mua ma túy của Nguyễn Thị N đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh chuyển xử lý hành chính là có căn cứ.

Đối với 02 lần Nguyễn Thị Ngọc bán ma túy cho hai người thanh niên không xác định được nhân thân, lai lịch, không làm việc được nên không đủ cơ sở để đề xuất xử lý.

Đối với người đàn ông tên anh B1 đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị N, đến thời điểm hiện tại không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đủ cơ sở đề xuất xử lý.

[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Hoài V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 27-6-2024.
  3. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Minh K 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 27-6-2024.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1294/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa 01 (một) ống thủy tinh (nỏ); 01 (một) cái hột quẹt gas; 01 (một) ly thủy tinh có gắn nắp nhựa và ống hút nhựa; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 0,0659 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 3,6289 gam; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1307/M3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong chứa một bịch nilon chứa chất rắn màu trắng, loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định 8,6160 gam; 03 (ba) túi nylon loại túi zip; 07 (bảy) đoạn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon đen đựng 28 túi zíp chưa qua sử dụng; 04 (bốn) nỏ thủy tinh.

    Truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị N: Số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng.

    Tuyên trả cho chị Lê Hoàng Thị T2 01 (một) xe mô tô biển số: 70K1-711.14 số khung: RLHJA3924MY428183 ; số máy: JA39E-2453421.

    (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08-11-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K, mỗi bị cáo phải chịu phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Hoài V, Hoàng Minh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Hoàng Thị T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - THA phạt tù;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Đội điều tra CA huyện Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ng và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger