Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:120/2024/HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy K.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Minh C
  2. Bà Nguyễn Thị X

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lê N, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Hộ trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn K; sinh ngày 18/02/1994

Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Bố: Bùi Văn Đ, sinh năm 1965. Mẹ: Cao Thị Hồng H, sinh năm 1969. Vợ, con: chưa có. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định số 64975/QĐ-XPHC ngày 25/02/2019 của Công an huyện Đ phạt vi phạm hành chính đối với K, về hành vi: Gây rối trật tự công cộng. Hình thức phạt tiền 2.700.000đồng.
  • + Tại Quyết định số 27503/QĐ-XPHC ngày 26/4/2019 của Công an huyện P xử phạt hành chính đối với K, về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Hình thức phạt tiền 3.000.000đ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/05/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú- Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Nguyễn Huyền H1, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: xóm I, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Ngyên.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Hồng L, sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

  1. Chị Lương Thị H2, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Cháu Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh năm 2009 (vắng mặt)
  6. Cháu Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2009 (vắng mặt)
  7. Địa chỉ: xóm I, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo pháp luật cho cháu C và cháu T1: Anh Trương Thanh T2 - Bí thư đoàn TNCS Hồ Chi Minh xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/4/2023, Lương Thị H2, sinh năm: 1993, trú tại: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cho chị Nguyễn Huyền H1, sinh năm: 1976, trú tại xóm I, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vay 5.000.000 đồng, với mức lãi suất theo thoả thuận 5.000 đồng/1 triệu/ 1 ngày. Sau khi thoả thuận xong H2 chuyển khoản cho chị H1 4.630.000 đồng, H2 tự ý giữ lại 370.000 đồng tiền lãi của 15 ngày. Đến ngày 14/6/2024, chị H1 trả lãi cho H2 700.000 đồng, từ đó chị H1 không trả tiền gốc và tiền lãi cho H2. Đầu tháng 4/2024, H2 nhờ Nguyễn Văn T, sinh năm: 1995, trú tại: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến nhà chị H1 đòi tiền giúp, T đồng ý và rủ Bùi Văn K (là bạn của T) đi đến nhà chị H1 để đòi tiền nhưng chị H1 không trả tiền. Đến chiều ngày 01/5/2024, H2, T, K cùng nhau uống bia tại xã B, huyện Đ, trong lúc uống bia H2 nhắc T, K lên nhà chị H1 đòi tiền cho H2. Uống bia xong, K đã rủ T đi đến nhà chị H1 để đòi khoản nợ hộ H2 thì T đồng ý. K điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Lead, màu trắng (không nhớ BKS) của K chở T đi đến nhà chị H1 để đòi tiền. Khi đến nhà chị H1, K dựng xe mô tô ngoài sân rồi T và K đi vào trong phòng khách thì thấy chị H1 và 02 người con gái của chị H1 đang ngồi ăn cơm. Lúc này, K đề nghị chị H1 trả khoản nợ mà chị H1 đang vay của chị H2 thì chị H1 nói chưa có tiền để trả và bảo nợ ai thì sẽ trả cho người đấy nên K và chị H1 đã cãi chửi nhau. K bực tức nên đã dùng tay trái cầm 01 chiếc bát ăn cơm (loại bát sứ) đang để trên bàn ném 01 nhát hướng từ trong ra ngoài, từ trái qua phải về phía cửa chính trúng vào 01 bên cánh cửa chính, loại cửa kính cường lực của nhà chị H1. Hậu quả: 01 bên cửa kính cường lực và 01 chiếc bát ăn cơm bị vỡ vụn rơi xuống nền nhà. Thấy vậy, T điều khiển xe mô tô chở K đi về nhà. Sau khi xảy ra sự việc, chị H1 làm đơn trình báo Công an xã P, đề nghị giải quyết.

Tiếp nhận tin báo Công an xã P đã lập hồ sơ ban đầu và chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận, thời điểm tháng 5/2024:

  • + Giá trị phần thiệt hại và công thay thế một cửa kính, dạng kính cường lực, kích thước cao 2,43m, rộng 1,17m, dầy 1,2cm, chưa được xác định nhãn hiệu. Cánh cửa được lắp mới năm 2020 là 2.372.250 đồng;
  • + Giá trị phần thiệt hại của chiếc bát bằng sứ, màu trắng đã qua sử dụng, đường kính miệng chiếc bát là 11cm, chiếc bát được mua tháng 01/2023 bị thiệt hại là 10.000 đồng.

Tổng số tài sản bị thiệt hại là 2.382.250 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Lời khai của K phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Lời khai của bị hại; Lời khai của người làm chứng; Vật chứng thu giữ; Kết luận định giá tài sản.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu GV1 (bên trong có 03 giấy vay tiền, cam kết trả nợ, bản phô tô) và 01 phong bì niêm phong ký hiệu TN1 (bên trong 01 thẻ nhớ SanDisk Utra loại 64GB), được lưu theo hồ sơ vụ án.
  • + 01 hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT1, bên trong có 01 tay nắm cửa bằng kim loại;
  • + 01 hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT2, bên trong có mảnh vỡ kính, kích thước (9,5x6,5x1,2)cm;
  • + 01 hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT3, bên trong 04 mảnh vỡ sứ;
  • + 01 hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT4, bên trong có 01 chiếc bát sứ, màu trắng;
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu vỏ hồng được niêm phong vào phong bì ký hiệu ĐTK (thu giữ của Bùi Văn K).

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/6/2024, chị Bùi Thị Hồng L, sinh năm 1991 là chị gái ruột của Bùi Văn K đã tự nguyện bồi thường số tiền 17.000.000 đồng cho gia đình chị Nguyễn Huyền H1, để khắc phục hậu quả, đến nay chị H1 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị đối với K.

Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSĐT ngày 06/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Văn K về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan, bị cáo ăn năn hối cải và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản... Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/5/2024 tại nhà chị Nguyền Huyền H3 thuộc xóm I, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Văn K đã thực hiện hành vi cầm 01 chiếc bát sứ (loại bát ăn cơm) của gia đình chị H3 ném vỡ 01 bên cửa kính, loại kính cường lực của gia đình chị H3 (bộ cửa chính loại cánh cửa), giá trị tài sản bị thiệt hại của chiếc bát và bên cửa kính là 2.382.250 đồng. Về trách nhiệm dân sự các bên đã giải quyết xong.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy hành vi của bị cáo Bùi Văn K đã phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 178 của BLHS năm 2015.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào ...cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc...thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

[3]. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn tại địa phương. Cụ thể trong vụ án này là tài sản của chị Nguyễn Huyền H1.Vì vậy cần xử lý bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm.

[4]. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng và hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Tại Công văn số 546/UBND - VP ngày 15/10/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn H thể hiện trong thời gian tại ngoại bị cáo Bùi Văn K chấp hành tốt các biện pháp quản lý, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình. Bị cáo K tích cực tuyên truyền vận động thanh thiếu niên nơi cư trú chấp hành pháp luật. Ủy ban nhân dân thị trấn H đề nghị Viện kiểm và Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xem xét cho bị cáo K được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương, địa phương sẽ có trách nhiệm quản lý, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[6]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để có mức hình phạt cho phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản cá nhân nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án:

  • - 01hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT1, bên trong có 01 tay nắm cửa bằng kim loại;01 hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT2 bên trong có mảnh vỡ kính, kích thước (9,5x6,5x1,2)cm; 01 hộp caton niêm phong ký hiệu HT3 bên trong có 04 mảnh vỡ sứ; 01 hộp bìa caton niêm phong ý hiệu HT4 bên trong có 01 chiếc bát sứ màu trằng là những vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vỏ hồng, điện thoại được lắp 01 sim điện thoại nhà mạng Vinaphone số thuê bao 0812.616.xxx được niêm phong vào phong bì ký hiệu ĐTK thu giữ của bị cáo K, cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong vụ án có chị Lương Thị H2 là người trực tiếp nhờ Nguyễn Văn T đi đến nhà chị H1 để đòi nợ hộ H2, tuy nhiên, T đã rủ thêm Bùi Văn K đi cùng. Ngày 01/5/2024 tại nhà chị H1, K có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của gia đình chị H1. Quá trình điều tra xác định, đây là hành vi tự phát của K, K không bàn bạc, thống nhất với T, H2. Do đó, T, H2 không đồng phạm với K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét, xử lý hình sự đối với T, H2.

Ngoài ra hồ sơ vụ án thể hiện trong khoảng thời gian từ tháng 03/2023 đến 5/2024, H2 không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (kinh doanh cho vay lấy lãi) nhưng H2 đã cho một số người vay tiền, có người thu lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/ 01 ngày (gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự), có người thu lãi 3.000 đồng/1 triệu/ 1 ngày (gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự), có người không thu lãi. Tổng số tiền lãi thu lời bất chính từ việc H2 cho người khác vay tiền dưới 30 triệu đồng, bản thân H2 chưa có tiền án, tiền sự nên không cấu thành tội phạm, Công an huyện Đ đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ xử lý hành chính đối với H2 theo thẩm quyền là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn K phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng: Khoản1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bùi Văn K 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, do bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong trước khi mở phiên tòa, không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT1, bên trong có 01 tay nắm cửa bằng kim loại;01 hộp bìa caton niêm phong ký hiệu HT2 bên trong có mảnh vỡ kính, kích thước (9,5x6,5x1,2)cm; 01 hộp caton niêm phong ký hiệu HT3 bên trong có 04 mảnh vỡ sứ; 01 hộp bìa caton niêm phong ý hiệu HT4 bên trong có 01 chiếc bát sứ màu trằng.
  • - Tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vỏ hồng, điện thoại được lắp 01 sim điện thoại nhà mạng Vinaphone số thuê bao 0812.616.xxx được niêm phong vào phong bì ký hiệu ĐTK thu giữ của bị cáo K.

(Tình trạng đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 94/QĐ – VKSĐT ngày 06/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - Công an huyện Đại Từ (3b);
  • - VKSND huyện Đại Từ (1b);
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên(1b);
  • - Chi cục THADS H. Đại Từ (1b);
  • - THAHS (2b);
  • - Bị cáo, bị hại, NLQ (4b);
  • - TB cho UBND TT. Hùng Sơn(1b);
  • - Lưu hồ sơ (1b).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Duy Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý làm hư hỏng tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Kiên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger