Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 120/2024/HSST

Ngày 15/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Tuấn và ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định xét xử số 119/2024/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với;

*Bị cáo: Nguyễn Văn T;

Sinh ngày: 09/10/1971; tại xã T, huyện Đ, Thái Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...] do Cục Cảnh sát QLHC và DLQG về dân cư cấp ngày 16/5/2018

Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện Đ, Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1950, Con bà: Nguyễn Thị V (đã chết). Vợ: Đào Thị N, sinh năm 1981. Con: Có 02 con; con lớn sinh năm 2012; con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ 11/8/2024 đến ngày 14/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Cháu Bùi Tường L, sinh ngày 08/8/2019

*Người có quyền lợi liên quan:

Chị Bùi Thị H, sinh năm 1989 (Là mẹ đẻ của cháu L)

Cư trú tại: Thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1.Anh Bùi Đình H1, sinh năm 1983 (Là bố đẻ của cháu L)

Cư trú tại: Thôn Chiến Thắng, xã Liên Hoa, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

2. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1989 (Là mẹ đẻ của cháu L)

Cư trú tại: Thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

*Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cháu Lam

Bà Trần Thị L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T.

(Vắng mặt chị H, cháu L, anh H1 có mặt bà L1)

*Người làm chứng:

1. Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

2. Chị Đào Thị N, sinh năm 1981.

Trú tại: Thôn A, xã T, huyện Đ

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 17N3 -2446 đi một mình từ nhà ở xã T sang xã L, huyện Đ để mua cám gà. Khi T đi đến trục đường thôn T, xã L thì thấy cháu Bùi Tường L, đang đứng một mình trên tay phải cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40 trị giá là 1.200.000 đồng nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của cháu L. Tuyến dừng xe, chống chân xe, xuống đi bộ đến gần chỗ cháu L giả vờ hỏi cháu L mượn điện thoại để xem, cháu L không nói gì, T liền dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay phải của cháu L rồi nhanh chóng lên xe mô tô rời khỏi xã L.

Do lo sợ nên đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, Nguyễn Văn T đã đến Cơ quan Công an huyện Đ đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Ngoài ra, T còn khai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 17N3 -2446 đi một mình đến cửa hàng T1 thuộc thôn T, xã L. Tại đây, T nhìn thấy 01 máy tính bảng nhãn hiệu S có số IMEI: 351587329236187 của chị Vũ Thị N1, sinh ngày 13/8/1990, trú tại thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình trị giá 1.800.000 đồng để trên yên xe mô tô không có người trông coi nên đã trộm cắp và mang về nhà cất giấu.

Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40, vỏ màu đen, màn hình cảm ứng, IMEI 1: 862598055678809, IMEI 2: 862598055678817 có trị giá 1.200.000 đồng; 01 máy tính bảng nhãn hiệu S có số IMEI: 351587329236187 có trị giá 1.800.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40 và 01máy tính bảng nhãn hiệu S có số IMEI 351587329236187 và quản lý 01 xe Honda Wave S, màu sơn đỏ đen, biển số 17N3 - 2446 Tuyến sử dụng.

Ngày 15/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho các chủ sở hữu trong đó trả chiếc điện thoại cho chị Bùi Thị H (là mẹ cháu Bùi Tường L) và trả chiếc máy tính cho chị Vũ Thị N1.

Đối với 01 xe Honda Wave S, màu sơn đỏ đen, biển số 17N3 - 2446 chủ sở hữu là chị Đào Thị N, sinh năm 1981, trú tại thôn A, xã T, huyện Đ (là vợ bị cáo T), khi T lấy xe đi, chị N không biết. Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chị N.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Thị H đã nhận lại điện thoại, chị Vũ Thị N1 đã nhận lại máy tính bảng, xác định còn nguyên vẹn nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về các vấn đề khác có liên quan: Đối với hành vi T trộm cắp máy 01 tính bảng của chị Vũ Thị N1 trị giá 1.800.000 đồng vào ngày 12/5/2024, Chủ tịch UBND huyện Đ đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 373/QĐ-UBND ngày 18/9/2024 bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng, theo đề nghị của Công an huyện Đ.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, ăn năn hối cải về việc làm của mình cho rằng do không hiểu biết pháp luật nên đã phạm tội, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người đại diện pháp của bị hại anh H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 120/CT - VKSĐH ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50 BLHS, đối với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến tranh luận cho rằng thực chất bị cáo không hiểu pháp luật nên đã vi phạm pháp luật, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Trần Thị L1 nhất trí với lời buộc tội của đại diện viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc quyết định một mức hình phạt phù hợp cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

Khi nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân. Do không hiểu biết pháp luật dẫn đến phạm tội, bị cáo gửi lời xin lỗi tới gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và hứa sẽ cải tạo tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi liên quan; phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ kết luận:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, trục đường thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn T có hành vi đi bộ đến gần chỗ cháu Bùi Tường L, khi cháu L đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40 trị giá là 1.200.000 đồng đứng một mình. Sau đó, T dùng tay phải giật điện thoại trên tay của cháu L rồi nhanh chóng lên xe mô tô biển số 17N3 -2446, điều khiển xe tẩu thoát. Thời điểm T phạm tội, cháu L mới 5 năm 02 ngày tuổi. Cháu L không có khả năng tự vệ và bảo quản tài sản cháu đang quản lý.

Do vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
  • 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự xã hội được pháp luật bảo vệ.

Hành vi của bị cáo thể hiện việc coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Do vậy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

  • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt chưa có tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, đồng thời tự nguyện giao nộp lại tài sản và thành khẩn khai báo, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản còn nguyên vẹn không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO C40; vỏ màu đen Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị H là mẹ cháu Bùi Tường L. 01 máy tính bảng nhãn hiệu S có số IMEI 351587329236187 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Vũ Thị N1 là đúng thẩm quyền Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • 01 xe Honda WaveS, màu sơn đỏ đen, biển số 17N3 - 2446 là xe của chị Đào Thị N, (vợ bị cáo T), khi T lấy xe đi, chị N không biết. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chị N là đúng thẩm quyền Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • Đối với hành vi ngày 12/5/2024, T trộm cắp máy 01 tính bảng của chị Vũ Thị N1 trị giá 1.800.000 đồng, Chủ tịch UBND huyện Đ đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 373/QĐ-UBND ngày 18/9/2024bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng là đúng thẩm quyền Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi liên quan, có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/8/2024;

3.Về trách nhiệm dân sự:

Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV buộc Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Với người có mặt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 15/11/2024, với người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Đại diện hợp pháp của bị hại
  • - Người có quyền lợi liên quan;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - VKSND huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã Thăng Long, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 120/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tuyến -cướp giật tai sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger