Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày: 06 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo và bà Trần Thị Ánh Hằng.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Thị Kim O, sinh năm 1975, tại C, An Giang; nơi cư trú: tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn K và bà Võ Thị Thanh N; chồng là Trần Tấn P và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/3/2015 bị Toà án thành phố C tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 05/11/2015 chấp hành xong; năm 2018 Ngô Thị Kim O bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện tỉnh An Giang, thời gian 15 tháng, đến ngày 01/11/2019 chấp hành xong; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03/7/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Võ Thị Thanh N, sinh năm 1955; nơi cư trú: tổ E, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt);
  • - Bà Lư Ngọc C, sinh năm 1974; nơi cư trú: khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Trần Thị Mỹ K1, sinh năm 1963 (vắng mặt); Ngô Thị M, sinh năm 1956 (vắng mặt); Dương Văn H, sinh năm 1970 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 03/7/2024, Công an thành phố C kết hợp Công an tỉnh A kiểm tra trên địa bàn thành phố C. Khi đi đến đường N, thuộc tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện Ngô Thị Kim O đang điều khiển xe mô tô biển số 67N7-4618 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, Ngô Thị Kim O ném từ tay trái xuống đường 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tiếp tục kiểm tra trong túi áo khoác bên trái của Ngô Thị Kim O đang mặc, có 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của O tại tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang thu giữ 01 bình thủy tinh có gắn ống nhựa trong suốt.

Tang vật thu giữ: 02 túi nhựa trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 67N7 - 4618; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 7, màu xanh; tiền Việt Nam 1.400.000 đồng; 01 bình thủy tinh có gắn ống nhựa trong suốt.

Ngô Thị Kim O khai nhận: Nguồn gốc ma túy đá nhặt được của người nam thanh niên (không rõ lai lịch) tại nhà của Ngô Thị M (sinh năm 1956, cư trú tại tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang), cất giấu để sử dụng.

Tại kết luận giám định số 933/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 4,7800 gam.

Tại Cáo trạng số 99/CT-VKSCĐ-HS ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Ngô Thị Kim O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Ngô Thị Kim O khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thanh N yêu cầu được nhận lại xe mô tô mà đã đưa cho bị cáo để làm phương tiện sinh hoạt đi lại trong gia đình, việc bị cáo sử dụng xe thế nào bà không biết; những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48

của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và 01 bình thủy tinh; trả lại bà Võ Thị Thanh N 01 xe mô tô Honda Airblade, màu đỏ - đen, biển số 67N7 – 4618; trả lại bị cáo O 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 7, màu xanh; số tiền 1.400.000 đồng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Kim O1 có mặt, còn lại những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Ngô Thị Kim O khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, cụ thể như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 03/7/2024, Ngô Thị Kim O đang điều khiển xe mô tô biển số 67N7 – 4618 trên đường N, thuộc tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang thì bị Công an kiểm tra phát hiện, bị cáo O ném từ tay trái xuống đường 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng và kiểm tra trong túi áo khoác bên trái của O

đang mặc có cất giấu 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, và đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo Ngô Thị Kim O đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là nữ, có hai con ở độ tuổi ăn học, đáng lẽ bị cáo phải sống tốt để nêu gương cho các con, nhưng lại lao vào con đường nghiện ngập, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tiền án tiền sự; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tính chất của vụ án, ma túy là chất gây nghiện, là nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, là mầm mống làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc thành phần lao động, không có nghề nghiệp ổn định; xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) tại nhà của Ngô Thị M. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Ngô Thị Kim O khai không biết rõ nhân thân của người này, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bình thủy tinh không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 1.400.000 đồng đã thu giữ của bị cáo O nhưng không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên do bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ là nộp tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án; 01 điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo O đó là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc cá nhân không sử dụng để liên lạc vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo O. Đối với chiếc xe mô tô Honda Airblade, màu đỏ - đen, biển số 67N7 – 4618 đã thu giữ của bị cáo O, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đó là tài sản của bà N (là mẹ ruột của bị cáo O) cho bị cáo O mượn để đi mua đồ ăn vặt, O sử dụng xe mô tô trên phạm tội về ma túy, N không biết nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

[7] Về các vấn đề khác: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Kim O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Kim O 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/7/2024)

Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, tịch thu tiêu hủy 4,7800 gam ma túy, 01 bình thủy tinh dụng cụ sử dụng ma túy; trả lại cho bà Võ Thị Thanh N 01 xe mô tô Honda Airblade, màu đỏ - đen, biển số 67N7 – 4618 (đã qua sử dụng); trả lại cho bị cáo Ngô Thị Kim O 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 7, màu xanh; số tiền Việt Nam 1.400.000 đồng đã thu giữ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án (Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND tỉnh (1);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Kim O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Kim O 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/7/2024)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger