|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS-PT Ngày 31/10/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quốc Cường. |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Mỹ Hải |
| Bà Nguyễn Thị Thanh Nga |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 31/10/2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 137/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo Hà Văn N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo.
Hà Văn N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/02/1995 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn T và bà Đậu Thị T1; Có vợ là Phạm Thị H (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/12/2021, bị Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã thi hành xong vào ngày 12/12/2021; Bị tạm giữ từ ngày 07/5/2023 và tạm giam từ ngày 16/5/2023 cho đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
- Chị Đào Thị V. Sinh năm 1983. Trú tại: Xóm H, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Chị Phan Thị Thúy D. Sinh năm 1993. Trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Anh Lương Văn T2. Sinh năm 2002. Trú tại: Bản K, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Mạnh H1. Sinh năm 1999. Trú tại: Khối Y, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn H2. Sinh năm 2003. Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Chị Phùng Thị Khánh H3. Sinh năm 1990. Trú tại: Số nhà A, đường Đ, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Phùng Bá H4. Sinh năm 1955. Trú tại: Số nhà A, đường Đ, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau: Sáng 27/4/2023, chị Đào Thị V cùng chị Phan Thị Thúy D đón xe khách Tuấn V1 tại bến xe V, Lào đi về huyện Y, Nghệ An. Trên đường đi xe dừng nghỉ ở một tỉnh thuộc nước Lào (chị V không nhớ địa chỉ cụ thể), chị V có mua 04 thùng bia nhãn hiệu BeerLao (đặc điểm thùng cát tông màu đen - vàng, trên bề mặt có in chữ nước ngoài, ký hiệu BeerLao DARK LAGER) và 04 két bia nhãn hiệu Heineken với mục đích để đưa về làm quà. Lúc mua xong thì chị V không ghi tên hay thông tin gì lên mặt ngoài của các thùng bia.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi xe khách về đến khu vực ngã tư xã H, huyện Y thì chị V gọi điện thoại cho chị Mai Lan A đến đón. Chị Mai Lan A điều khiển xe ô tô đến đón chị V và chị D. Lúc này anh Lương Văn T2 - là phụ xe khách Tuấn V1, xuống xe và đi đến khoang chứa đồ xe khách phía bên cửa lên xuống để chuyển hành lý của chị V và chị D ra khỏi xe, gồm: 02 chiếc va li của chị V và chị D, 04 thùng bia nhãn hiệu BeerLao và 04 két bia nhãn hiệu Heineken. Khi anh Lương Văn T2 đang cầm thùng bia nhãn hiệu BeerLao, chị V thấy mặt dưới của thùng bia có ghi chữ “ANH HÙNG VINH TP VINH 0866979984”, chị V nói với anh T2 “em ơi, răng thùng bia tên của ai nầy”, anh T2 trả lời “o cứ lấy đi, lát nữa cậu lấy thùng bia kia để trả cho họ, bia nào cũng giống nhau mà”, chị V gật đầu đồng ý. Anh T2 đã đưa thùng bia này cho chị D và chị D nhận lấy để vào hàng ghế sau xe ô tô của chị Mai Lan A. Thùng bia này bị bung lớp bìa cát tông phía đầu thùng bia nhưng các lon bia không bị rơi ra ngoài. Chị V và chị D tiếp tục nhận toàn bộ số hành lý còn lại và sau đó chị Mai Lan A chở chị V và chị D về nhà của mình.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi về đến nhà chị Lan A thì chị V và chị D đưa hành lý vào nhà và lấy các lon bia trong thùng bia nhãn hiệu BeerLao (Là thùng bia có ghi thông tin ở mặt sau, bị bung lớp bìa cát tông phía đầu thùng từ trước) ra sử dụng. Khoảng 21 giờ 18 phút cùng ngày, tài khoản Facebook mang tên “Nguyễn Duy K” của anh Nguyễn Duy K - là phụ xe khách Tuấn V1 nhắn tin đến tài khoản Facebookcủa chị V có tên “Vinh Hoàng” (Chị V không nhớ rõ nội dung tin nhắn do tin nhắn đã bị thu hồi).
Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, số điện thoại 0912.181.xxx của chị Đào Thị T3 (sinh năm 1989, trú tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An) gọi điện thoại đến số điện thoại của chị V (02092412xxx, là số thuê bao mạng di động của Lào) và chị T3 nói “Chị ơi cho em lấy bia”, chị V hỏi “Bia nào”. Chị T3 trả lời “Ơ, răng nhà xe lại bảo điện cho chị để lấy bia”, chị V trả lời “Bia này của chị mà, răng em lại điện cho chị để lấy bia”, chị T3 tắt máy và kết thúc cuộc gọi.
Đến 21 giờ 54 phút cùng ngày, chị V trả lời tin nhắn đến tài khoản Facebookmang tên “Nguyễn Duy K” biểu tượng “Like”. Sau đó chị V thấy tài khoản F có 04 cuộc gọi nhỡ kèm theo tin nhắn “Nãy chị lấy 02 két bia có ghi tên H1 phải không chị”. Chị V trả lời “Đúng rồi em”. Lúc 22 giờ 26 phút cùng ngày, chị V gọi đến tài khoản F1 nói trên thì anh Nguyễn Duy K bắt máy và nói “Họ cứ đòi 02 thùng bia nở” chị V nói “Chị bóc uống rồi”, anh K trả lời “Tưởng chưa bóc thì cho em đổi lại cho khách” rồi sau đó tắt liên lạc.
Quá trình chị V cùng chị D và chị Lan A uống bia, chị Lan A tiếp tục lấy các lon bia từ trong thùng để uống thì thấy phần sát đáy trong thùng bia có 10 gói ni lông màu đen có đặc điểm giống nhau, trên bề mặt mỗi gói có in chữ VERSACE màu vàng và 01 gói ni lông trong suốt bên trong có chứa 20 viên nén màu hồng. Chị V nghi ngờ đó là ma túy nên đã trình báo đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y và giao nộp: 01 vỏ thùng bia nhãn hiệu BeerLao (có đặc điểm thùng cát tông màu đen – vàng, trên bề mặt có in chữ nước ngoài, ký hiệu “BeerLao DARK LAGER”, mặt dưới màu vàng của thùng bia có ghi chữ “ANH HÙNG VINH TP VINH 0866979984”); 10 gói ni lông màu đen có đặc điểm giống nhau, trên bề mặt mỗi gói có in chữ VERSACE màu vàng và 01 gói ni lông trong suốt bên trong có chứa 20 viên nén màu hồng. Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành lập bản và niêm phong các đồ vật, tài liệu nói trên theo đúng quy định.
Ngày 28/4/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng số vật chứng chị Đào Thị V giao nộp, Hội đồng đã xác định:
- Tổng khối lượng chất rắn màu trắng (nghi là ma túy) trong 10 gói ni lông màu đen có đặc điểm giống nhau, trên bề mặt mỗi gói có in chữ VERSACE màu vàng là 162,35g.
- Tổng khối lượng 20 viên nén màu hồng (nghi là ma túy) là 6,335g.
Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiến hành xác minh theo quy định của pháp luật. Đến ngày 07/5/2023, Hà Văn N đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y xin đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, Hà Văn Nguyên K1 nhận như sau:
Vào khoảng tháng 4 năm 2022, N đi chơi tại nước Lào, quá trình đi chơi với bạn bè thì có quen và biết số điện thoại của một người đàn ông tên K2, khoảng 30 tuổi, trú tại tỉnh Thừa Thiên Huế và hiện đang sống ở Lào. Nguyên không rõ nhân thân, lai lịch của người này, thỉnh thoảng N cùng sử dụng nước vui (ma túy) chung với người này. Đến tháng 9 năm 2022, N về Việt Nam và sinh sống tại nhà của chị Phùng Thị Khánh H3. Khi về Việt Nam sinh sống, N liên lạc với K2 qua mạng xã hội Telegram để mua ma túy cho bản thân sử dụng, tài khoản Telegram của N tên L đăng ký số điện thoại 0943.799.xxx, K2 sử dụng tài khoản mạng xã hội tên MinKen đăng ký số điện thoại 008562097273709. Khi mua ma túy của K2 thì N phải chuyển tiền trước cho K2 từ tài khoản số 51210009888888 của N mở tại Ngân hàng B đến tài khoản số [...] mang tên NGUYEN THANH THUAN mở tại N2 rồi K3 sẽ gửi ma túy từ Lào về Việt Nam cho N. Hà Văn N đã một số lần mua ma túy (nước vui) và kẹo (ma túy tổng hợp) của K2, K2 gửi ma túy từ Lào về Việt Nam bằng cách giấu ma túy vào các thùng bia Lào gửi xe khách Tuấn V1 về Việt Nam cho N. Mỗi lần mua ma túy, N thống nhất với K2 về số lượng, loại ma túy và giá tiền rồi N đều nhắn tin cho K2 địa chỉ người nhận tên là “ANH HÙNG VINH TP VINH” và kèm các số điện thoại khác nhau. Sau khi nhận được ma túy thì N đã sử dụng hết.
Ngày 26/4/2023, N sử dụng tài khoản mạng xã hội T4 gọi đến cho K2 nói “gửi cho anh ít đồ” (Có nghĩa là N hỏi mua ma túy của K2 và K2 gửi ma túy về Việt Nam cho N). Ken hỏi “Anh lấy mấy”, N nói “Lấy cho anh 10 gói nước và 20 cái kẹo” (nghĩa là 10 gói ma túy – nước vui và 20 viên ma túy tổng hợp) thì K2 đồng ý. Cả hai đã thống nhất giá tiền các loại ma túy với nhau rồi Ken nhắn tin số tài khoản 060666777886 mang tên NGUYEN THANH THUAN mở tại Ngân hàng S1 và số tiền 18 triệu. Hà Văn N nhắn tin cho K2 với nội dung “0866979984, ghi tên Anh Hùng V2 TP V”. Sau đó, N sử dụng tài khoản Ngân hàng số 51210009888888 của N mở tại Ngân hàng B chuyển số tiền 18.000.000 đồng, đến số tài khoản mà K2 đã cho. Lần thứ nhất, N chuyển 10.000.000 đồng và lần thứ hai N chuyển 8.000.000 đồng. Sau khi N chuyển tiền xong thì K2 nhắn tin là N đã chuyển thiếu tiền, N hiểu ý K2 là K2 nhắn giá tiền Lào nhưng N hiểu nhầm thành tiền Việt. Ken nhắn tin cho N tổng tiền là 24.300.000 đồng, N chuyển thêm vào tài khoản mà K2 đã cho số tiền 6.300.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ ngày 27/4/2023, K2 gọi cho N qua mạng xã hội T4 nói “Em nhờ người gửi xe Tuấn V1 cho anh 04 thùng bia, em bỏ trong một thùng nha anh” (H5 ý K2 nói là đã bỏ ma túy vào một trong 04 thùng bia Lào và đã gửi xe Tuấn V1 cho N), N nói cảm ơn rồi tắt máy.
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 27/4/2023, anh Lương Văn T2 - phụ xe nhà xe Tuấn V1 - sử dụng số điện thoại 0338.474.xxx gọi đến số 0866979984 của N nói “Anh có 04 két bia bên Lào gửi về giờ anh lấy mô”, N nói “Anh lấy ngã tư ga” Khoảng 19 giờ cùng ngày, anh T2 gọi cho N nói ra lấy bia và hẹn địa chỉ trả hàng tại khu vực khách sạn X. N gọi điện thoại đến Tổng đài Shipper Thành V3 để thuê người nhận hàng. Một lúc sau, anh Nguyễn Mạnh H1 sử dụng số điện thoại 0977.259.xxx gọi đến số 0866979984 của N và N nói anh H1 ra khách sạn Xanh gần ngã tư ga lấy hộ 04 két bia Lào thì anh H1 đồng ý. Một lúc sau, anh T2 gọi cho N và nói nếu không đến lấy kịp tại ngã tư ga thì ra ngoài nhà xe T5 để lấy bia. N gọi lại cho anh H1 và nói ra tại khu vực văn phòng của nhà xe T5 tại đường T để lấy 04 két bia và anh H1 đồng ý. Lúc này, chị Phùng Thị Khánh H3 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Rand Rover màu trắng, BKS 37A-30191 của chị H3 chở N đi đến khu vực xã N, thành phố V thì anh H1 gọi cho N nói là đã nhận được bia, N nói anh H1 đưa đến khách sạn L1, gần chung cư B. Sau khi đến, H3 đậu xe gần khách sạn L1, N đi bộ đến chung cư B gặp anh H1. Anh H1 nói là đã để 04 thùng bia trước sảnh chung cư và chỉ vị trí cho N. Sau đó, N đã sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] của Ngânhàng V4 chuyển khoản số tiền 170.000 đồng cho anh H1 gồm phí vận chuyển và tiền trả nhà xe T5.
Sau khi chuyển tiền, N lấy 04 thùng bia có đặc điểm thùng cát tông màu đen - vàng, trên bề mặt có in chữ nước ngoài, ký hiệu “BeerLao DARK LAGER” đưa lên xe ô tô do H3 cầm lái. Sau đó, N lần lượt mở từng thùng bia ra kiểm tra để tìm số ma túy mà K2 gửi nhưng không thấy. N gọi cho K2 qua mạng xã hội T4 và trao đổi về việc không tìm thấy ma túy trong các thùng bia. K2 nói rằng các thùng bia gửi cho N đều có ghi thông tin tên và số điện thoại và nói N liên lạc lại với nhà xe T5. Nguyên kiểm tra lại các thùng bia thì không thấy thùng bia nào ghi chữ “ANH HÙNG VINH TP VINH 0866979984”. N gọi điện cho anh Nguyễn Mạnh H1 hỏi xem lúc nhận bia thì có két nào nữa không thì anh H1 trả lời không có. N gọi điện thoại cho anh Lương Văn T2 và nói đã giao nhầm bia cho N, anh T2 nói rằng bia đen nào cũng vậy. N nói lại “trong bốn thùng bia có một thùng có ít trầm hương bột có thằng em gửi về cho anh”, anh T2 nói “nhà em nhận bia chứ có nhận trầm hương của anh mô”, N nhờ anh T2 tìm lại khách đã cầm nhầm thùng bia và anh T2 hứa sẽ kiểm tra lại.
Một lúc sau, N gọi điện cho anh T2 nói anh T2 chịu khó tìm lại thùng bia và sẽ gửi thêm tiền cước. Và đến 21 giờ 10 phút cùng ngày thì N nhắn tin cho anh T2 cũng với nội dung nhờ tìm lại thùng bia và gửi thêm cước. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh T2 gọi điện cho N nói là đã tìm được 02 thùng bia có ghi chữ ANH HÙNG VINH TP VINH 0866979984 và nhắn ra chỗ C mới để đổi. N dùng số điện thoại 0866.979.xxx gọi cho Tổng đài Shipper đặt đơn giao hàng tại khách sạn V5. Sau đó, chị H3 điều khiển xe ô tô chở N đến khu vực khách sạn V5 - đường M thuộc phường Q, thành phố V. Nguyên xuống xe và gặp anh Hồ Văn H2. Nguyên trao đổi với anh H2 về việc đưa 02 thùng bia ra đổi cho nhà xe T5 tại khu vực C mới và mang 02 thùng khác về, ngoài ra đưa thêm cho phụ xe 200.000 đồng. Anh H2 mang 02 thùng bia đến khu vực cây xăng DKC gần đối diện bến xe B thì gặp xe khách Tuấn V1, anh H2 đến gần gặp anh T2 và nói về việc đổi 02 thùng bia. Anh T2 mở cốp xe khách đưa cho anh H2 02 thùng bia (có đặc điểm thùng cát tông màu đen - vàng, trên bề mặt có in chữ nước ngoài, ký hiệu “BeerLao DARK LAGER”, mặt dưới màu vàng của thùng bia có ghi chữ “ANH HÙNG VINH TP VINH 0866979984”). Anh H2 đưa lại cho anh T2 02 thùng bia và số tiền 200.000 đồng rồi đi về khách sạn V5 để trả hàng cho N.
Khoảng 10 phút sau, anh H2 gặp N tại khu vực khách sạn V5 và đưa cho N 02 thùng bia (có đặc điểm thùng cát tông màu đen – vàng, trên bề mặt có in chữ nước ngoài, ký hiệu “BeerLao DARK LAGER”, mặt dưới màu vàng của thùng bia có ghi chữ “ANH HÙNG VINH TP VINH 0866979984”). Sau đó, N đã sử dụng tài khoản Ngânsố [...] của Ngânhàng V4 chuyển khoản số tiền 250.000 đồng cho anh H2. Nguyên đưa 02 thùng bia lên xe ô tô và mở từng thùng bia ra để kiểm tra nhưng không tìm thấy số ma túy mà K2 gửi cho N như đã thỏa thuận. N gọi lại cho anh Lương Văn T2 nhưng anh T2 không nghe máy.
Sau đó chị Phùng Thị Khánh H3 lái xe ô tô chở N đi về nhà của chị H3 tại phường L, thành phố V. Trong số 04 thùng bia mà N nhận được từ nhà xe T5 (trong đó có 02 thùng là do K2 gửi cho N) vào ngày 27/4/2023 thì N đã cho ông Nguyễn Xuân N1 (Sinh năm 1973, trú tại phố Q, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội) 02 thùng bia. Còn lại 02 thùng thì N đã đưa về nhà sử dụng vào ngày 03/5/2023.
Ngoài ra, N còn khai nhận trước đó đã nhiều lần đặt mua ma túy của đối tượng tên K2 gửi từ Lào về Việt Nam để sử dụng. Tuy nhiên, không rõ thời điểm mua, số lượng, loại ma túy cụ thể nên chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự Nguyên đối với những lần này.
Ngày 07/5/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y thu giữ của Hà Văn N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, bên trong có gắn sim số 0943799999.
Ngày 07/5/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của ông Phùng Bá H4 (Là bố đẻ của chị Phùng Thị Khánh H3) tại số nhà A, đường Đ, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét thu giữ:
- 01 (Một) thùng cát tông màu nâu, trên bề mặt có ghi chữ “BEER LAO WHITE BEER", bên mặt nắp thùng có viết chữ “A. Hùng Vinh V2 0368566656", bên trong có 24 chai bia chưa qua sử dụng.
- 01 (Một) thùng cát tông màu nâu, trên bề mặt có ghi chữ “BEER LAO WHITE BEER”, bên mặt nắp thùng có viết chữ “A. Hùng Vinh V2 0368566656", bên trong có 24 chai bia chưa qua sử dụng.
- 01 (Một) thùng cát tông màu đen nâu, trên mỗi bề mặt thùng đều có in chữ nước ngoài, ký hiệu “Beerlao DARK LAGER”, dưới đáy thùng cát tông có chữ “A. HÙNG TP. VINH 0384123323”, bên trong có 24 lon bia chưa qua sử dụng.
Ngày 08/5/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y thu giữ của ông Nguyễn Xuân N1 02 (Hai) thùng bia nhãn hiệu BeerLao (mỗi thùng đều có đặc điểm thùng cát tông màu đen – vàng, mặt trên có in chữ nước ngoài, ký hiệu “Beerlao DARK LAGER”), trong đó mặt dưới của 01 thùng có ghi “A. Hùng M Ở VINH 0368566656”; mặt dưới của 01 thùng còn lại có ghi “ANH HÙNG VINH 0866979984".
Tại Bản kết luận giám định số 127/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 04/5/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh N kết luận: 10 (Mười) mẫu chất rắn màu trắng (Ký hiệu từ M1 đến M10) do Đào Thị V giao nộp gửi tới giám định đều là ma túy; loại Ketamine; có tổng khối lượng là 162,35g; Mẫu viên nén màu hồng (Ký hiệu M11) do Đào Thị V giao nộp gửi tới giám định là ma túy; loại MDMA; 20 viên có tổng khối lượng là 6,335g.
Căn cứ tại khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hà Văn N được tính như sau: 6,335 gam ma túy (MDMA). Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm b khoản 4 điều 249 Bộ luật Hình sự là 6,335,% (6,335 gam so với 100 gam); 162,35 gam ma túy (Ketamine). Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm e khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự là 54,12% (162,35 gam so với 300 gam).
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hà Văn N là 60,445% (dưới 100% so với khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự). Vì vậy tổng khối lượng các chất ma túy do Hà Văn N tàng trữ để sử dụng thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản kết luận giám định số 214/KL-KTHS(DD3-TL) ngày 16/5/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh N kết luận: Chữ viết trên 06 mẫu vật cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 do cùng một người viết ra.
Cáo trạng số 05/CT-VKS-YT ngày 10/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã quyết định truy tố bị cáo Hà Văn Nguyên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249; khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Hà Văn N từ 11 đến 12 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động của bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 06 vỏ thùng bia, số ma túy còn lại cùng phong bì niêm phong vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Những người bào chữa cho bị cáo trình bày: Không nhất trí với nội dung cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Hà Văn N 11 (mười một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2023. Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ chấp hành hình phạt, quyền kháng cáo của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/7/2024, bị cáo Hà Văn N kháng cáo kêu oan. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 11/10/2024, bị cáo có đơn trình bày thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đoàn Đặc nhiệm PCMT số 2 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển có Công văn số 1467/MT2 ngày 15/10/2024 và tài liệu kèm theo liên quan đến việc Hà Văn N, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An có tham gia công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: các cơ quan tiến hành tố tụng đã điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Hà Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h, khoản 3, Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan cho bị cáo. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Về nội dung xin giảm nhẹ, đề nghị áp dụng điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo bị cáo Hà Văn N được gửi trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo đúng quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự. HĐXX giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khai nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và cán bộ điều tra thuộc Cơ quan điều tra Công an huyện Y.
Xét thấy: Đối với những sai lệch về mặt thời gian và địa điểm trong một số biên bản, tài liệu làm việc. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Những sai sót này đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Y giải trình tại Công văn số 584/CV-CQĐT ngày 28/5/2024. Nội dung giải trình, đính chính và phù hợp với quá trình, diễn biến điều tra vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội; khẳng định quá trình điều tra không bị mớm cung, bức cung. Các bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngay sau khi phạm tội đều khai rất rõ ràng, cụ thể về hành vi phạm tội của mình và phù hợp với đơn xin đầu thú và biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án (lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ, giám định vật chứng, kết xuất thông tin điện thoại, đơn xin đầu thú, lời nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm...) được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Hà Văn N đã có hành vi mua ma túy của một người tên là K2 (đang ở Lào) để về sử dụng. Ma túy đã được đối tượng K2 bỏ vào thùng bia gửi từ Lào về Việt Nam. Khi gửi K2 đã thông tin ký hiệu thùng bia có chứa ma túy để Hà Văn N nhận biết khi nhận hàng. Khối lượng ma túy được xác định là 162,35g ma túy Ketamine và 6,335g ma túy MDMA.
Căn cứ khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hà Văn N được tính như sau: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm e khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự là 54,12% (162,35 gam so với 300 gam). Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm b khoản 4 điều 249 Bộ luật Hình sự là 6,335,% (6,335 gam so với 100 gam). Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hà Văn N là 60,445% (dưới 100% so với khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự).
Hành vi mua ma túy để sử dụng là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ khối lượng ma túy thu giữ được. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố, xét xử và quyết định hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm h, khoản 3, Điều 249 Bộ luật Hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện như ma túy đá. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước đang kiên quyết đấu tranh nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đồng xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng bị cáo vẫn mua để sử dụng, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Căn cứ nội dung vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 11 năm 06 tháng tù là có căn cứ.
Tuy nhiên, xét tổng thể tính chất vụ án, bị cáo đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội, việc bị cáo thay đổi lời khai là do tâm lý và nhận thức. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đồng thời, khi xét xử phúc thẩm, bị cáo có thêm tài liệu về việc đã tham gia phòng chống tội phạm theo xác nhận của Đoàn Đặc nhiệm PCMT số 2 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển có Công văn số 1467/MT2 ngày 15/10/2024 và tài liệu kèm theo. Tài liệu này đã được Tòa án xác minh về tính hợp pháp. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo được áp dụng khi xét xử phúc thẩm. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được sớm trở lại cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn N, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Hà Văn N.
Căn cứ điểm h, khoản 3 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn N 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/05/2024.
[2] Về án phí: Căn cứ điểm h, khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Hà Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 120/2024/HS-PT ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 120/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ha Van N tàng trữ trái phép chất ma túy
