Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 120/2024/DS-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

(V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Ngọc Lâm và bà Đỗ Thị Thái

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:

Ông Lê Xuân Long - Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2023/TLST- DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 67/2024/QĐHPT-DS ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P

    Địa chỉ: số B, N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

    Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – Tổng giám đốc

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thanh Q – cán bộ ngân hàng (Có mặt)

  2. Bị đơn: anh Nguyễn Thế S – sinh năm: 1973 (Vắng mặt)

    Chị Nguyễn Thị L – sinh năm: 1973 (Có mặt)

    Đều HKTT: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .

  3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Thế Đ1 – sinh năm: 1944
    2. Chị Nguyễn Thị Mỹ L1 – sinh năm: 1995 (Nguyễn Thị Mĩ L2)

      (Chị L2 hiện đang sinh sống và học tập bên Nhật Bản)

    3. Anh Nguyễn Thế L3 – sinh năm: 1998

      (Anh L3 hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại Giam N, tỉnh Ninh Bình)

    4. Anh Nguyễn Thế Ú – sinh năm: 1971
    5. Chị Nguyễn Thị U – sinh năm: 1966
    6. Đều ĐKHKTT: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .

    7. Chị Nguyễn Thị Ư – sinh năm: 1975
    8. Chị Nguyễn Thị T – sinh năm: 1968
    9. Đều HKTT: Thôn T, xã A, huyện M, TP .

      (Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP P đã cho ông Nguyễn Thế S và bà Nguyễn Thị L vay số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 0018/18/TL/HĐTDNH/CN ngày 28/01/2011 và Hợp đồng tín dụng 148/11/TL/HĐTDNH/CN ngày 21/05/2011 chi tiết:

HĐTDKhế ước nợNgày nhận vaySố tiền phát vayThời hạn vayLãi suấtNgày đến hạn
0018/18/TL/HĐTDNH/CN01/0018/18/TL/KUNN28/01/20111.500.000.000120 tháng21% năm28/01/2021
148/11/TL/HĐTDNH/CN01/148/11/TL/KUNN23/5/2011500.000.00060 tháng25% năm23/05/2016
Tổng số tiền phát vay2.000.000.000 VNĐ
  1. Tổng số tiền vay của hai hợp đồng là: 2.000.000.000 VND
  2. Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh.
  3. Hình thức giải ngân: Giải ngân 1 lần. Theo đó, thì ông S, bà L đã nhận đủ số tiền trên.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, hộ ông Nguyễn Thế S đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số: 04, diện tích: 318,6 m2, tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T364376, số vào sổ cấp GCN: 0345 QSDĐ do UBND huyện Ứ, H (nay là Hà nội) cấp ngày 13/04/2004 cho hộ ông Nguyễn Thế S. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 012548/2011, quyển số 08 TP/CC – SCC/HĐTC tại văn phòng C, tp Hà Nội, ngày 27/01/2011 và phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo món vay vốn ngân hàng.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu Ông Nguyễn Thế S, Bà Nguyễn Thị L trả nợ, Ông Nguyễn Thế S, Bà Nguyễn Thị L và Bên bảo đảm vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.

Tính đến ngày 13 tháng 8 năm 2024, Bên vay mới thanh toán tổng số tiền là: 1.022.808.192 VND (trong đó nợ gốc là: 399.769.019 VND + nợ lãi trong hạn là: 621.141.962 VND, nợ lãi quá hạn: 1.897.211 VND), tổng số tiền mà Ô đã còn nợ Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố P theo Hợp đồng tín dụng số 0173/11/TL/HĐTDNH/CN ngày 13/08/2024 là: 7.827.744.738 VND (Bằng chữ: Bảy tỷ, tám trăm hai mươi bảy triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn, bảy trăm ba mươi tám đồng), trong đó: nợ gốc: 1.600.230.981 VND, nợ lãi trong hạn: 1.212.370.799 VND, nợ lãi quá hạn: 5.015.142.958 VND.

I. Yêu cầu khởi kiện:

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bằng đơn này Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố P khởi kiện Ông Nguyễn Thế S, Bà Nguyễn Thị L và Bên bảo đảm ra trước Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa – TP ., kính đề nghị Quý Tòa giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc Ông Nguyễn Thế S và bà Nguyễn Thị L phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố P với tổng số tiền là: 9.421.337.069 VND (Bằng chữ: Chín tỷ, bốn trăm hai mươi mốt triệu, ba trăm ba mươi bảy nghìn, không trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc: 1.600.230.981 VND, nợ lãi trong hạn: 4.574.533.656 VND, nợ lãi quá hạn: 3.246.572.432 VND. (Lãi vay tạm tính đến ngày 13/08/2024)
  2. Buộc Ông Nguyễn Thế S và bà Nguyễn Thị L phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết với H kể từ ngày 14/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà Ông Nguyễn Thế S và bà Nguyễn Thị L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố P có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ, tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số: 04, diện tích: 318,6 m2, tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T364376, số vào sổ cấp GCN: 0345 QSDĐ do UBND huyện Ứ, H (nay là Hà nội) cấp ngày 13/04/2004 cho hộ ông Nguyễn Thế S.

  1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Ông Nguyễn Thế S và bà Nguyễn Thị L đối với Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố P. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Ông Nguyễn Thế S và bà Nguyễn Thị L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố P bằng nguồn thu và các tài sản hợp pháp khác.

Án phí: bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải bị đơn chị Nguyễn Thị L có quan điểm trình bày: vợ chồng chị có vay vốn Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố P (gọi tắt là Ngân hàng) thông qua việc ký kết 02 Hợp đồng tín dụng trung dài hạn:

  • Hợp đồng số 148/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 21/5/2011 vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn);
  • Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0018/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 28/01/2011 số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng);

Đều có mục đích vay: bổ sung tiền mua đất.

Theo đó, lần lượt ngày 23/5/2011 và ngày 28/01/2011 vợ chồng chị đã nhận giải ngân khoản tiền 500.000.000 đồng và 1.500.000.000 đồng từ ngân hàng theo khế ước nhận nợ số 01/148/11/TL/KUNN và số 01/0018/11/TL/KUNN. Tổng số tiền vợ chồng chị nhận giải ngân từ Ngân hàng là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng chẵn). Ngoài ra, trong các Hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ còn có các thỏa thuận về lãi suất, thời hạn vay, ..... và các thỏa thuận khác như ngân hàng trình bày là đúng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên của vợ chồng chị ở Ngân hàng thì hộ ông Nguyễn Thế S gồm: anh Nguyễn Thế S, chị Nguyễn Thị L, Nguyễn Thế Đ1, bà Phạm Thị L4 và con gái chị Nguyễn Thị Mĩ L2 có thể chấp: Quyền sử dụng thửa đất số 156, tờ bản đồ: 04, diện tích là 318,6m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP ., GCNQSD đất số T 364376; số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 0345.QSDĐ, do Chủ tịch UBND huyện Ứ cấp ngày 13/4/2004 cho hộ ông Nguyễn Thế S, Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 012548/2011, quyển số 08 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 27/01/2011 và phụ lục Hợp đồng thế chấp ngày 17/5/2011 đều của Văn Phòng C.

Tuy nhiên, hiện nay hoàn cảnh kinh tế gia đình chị quá khó khăn nên không thu xếp được tiền để trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng khởi kiện vợ chồng chị ra Tòa yêu cầu trả nợ, nếu không trả được nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, quan điểm của vợ chồng chị: đề nghị Tòa án và Ngân hàng T1 điều kiện cho vợ chồng chị có thêm thời gian để trả nợ dần cho Ngân hàng, đề nghị Ngân hàng xem xét miễn toàn bộ tiền nợ lãi cho vợ chồng chị.

Trên tài sản thế chấp nêu trên hiện có các thành viên gia đình chị trực tiếp thường xuyên sinh sống trên đó, gồm có: vợ chồng chị và bố chồng là Ông Nguyễn Thế Đ1 – sinh năm: 1944 đang sinh sống trên đất. Còn các con chị là: Nguyễn Thị Mĩ L2 – sinh năm: 1995 hiện đang sinh sống và học tập ở N còn cụ thể ở địa chỉ nào thì chị không rõ vì con sinh sống, học tập bên đó thay đổi liên tục cũng không cố định chỗ nào. Đối với địa chỉ của cháu chị cung cấp ở hợp đồng thực tập kỹ năng thì hiện nay hợp đồng đã hết hạn, không còn địa chỉ đó nữa. Còn địa chỉ trong giấy vận đơn từ năm 2017 thì chị cũng chỉ biết có giấy đó gửi cho Tòa, còn không rõ đến nay cháu còn ở đó không, và cũng không biết hiện tại cháu đang ở đâu, chỉ biết cháu đi làm ở bên N.

Đối với cháu Nguyễn Thế L3 – sinh năm: 1998. Hiện tại, cháu L3 đang chấp hành án phạt tù ở đội 16, phân trại 2, trại giam N, N, Ninh Bình.

Mẹ chồng chị là bà Phạm Thị L4 chết năm: 2021. Sinh thời, ông Đ1 và bà L4 có 05 người con là: Nguyễn Thị U; Nguyễn Thế Ú; Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Ư, Nguyễn Thế S.

- Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị U có quan điểm trình bày: chị không biết việc vay vốn ngân hàng của anh S, chị L. Chị là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà L4. Nhưng chị tự nhận thấy, chị không có liên quan gì đến vụ án và không đòi hỏi gì về quyền lợi của mình liên quan đến vụ án nên từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa cũng như các phiên tòa xét xử vụ án.

- Tại biên bản lấy lời khai của chị Nguyễn Thị T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: chị có biết việc anh S, chị L vay tiền ngân hàng và không trả được nên ngân hàng khởi kiện. Liên quan đến tài sản thế chấp, chị cho rằng mình có phần liên quan vì đây là tài sản của bố mẹ, mẹ chị mất thì chị phải có phần.

- Tại bản tự khai của anh Nguyễn Thế L3 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: anh có biết việc bố mẹ anh là Nguyễn Thế S và Nguyễn Thị L vay tiền của ngân hàng và thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ 04. Quan điểm của anh L3, anh không có đóng góp gì về công sức cũng như tài sản đối với thửa đất thế chấp, anh có nguyện vọng mong Ngân hàng tạo điều kiện cho bố mẹ anh trả nợ dần và hoãn việc xử lý tài sản thế chấp vì đây là tài sản duy nhất của gia đình, nếu xử lý thì bố mẹ không có chỗ để ở.

- Bị đơn anh Nguyễn Thế S, ông Nguyễn Thế Đ1, anh Nguyễn Thế Ú, chị Nguyễn Thị Ư, chị Nguyễn Thị Mĩ L2, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, đã triệu tập các đương sự đến Tòa làm việc nhưng đều vắng mặt nên không có quan điểm trình bày.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp ngày 13/8/2024: tài sản thế chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp; hiện tại không có tranh chấp với ai; Trên đất hiện tại, có ông Đ1, anh S, chị L đang sinh sống.

Tại phiên tòa: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Toà án buộc vợ chồng anh S, chị L phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP P tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 27/9/2024 của cả hai hợp đồng tín dụng là:

Nợ gốc: 1.600.230.981 đồng;

Nợ lãi trong hạn: 4.574.533.656 đồng;

Nợ lãi quá hạn: 1,949,015,524 đồng

Lãi chậm trả lãi, phí: 1,381,113,185 đồng.

Tổng số tiền là: 9,517,539,951 đồng.

Bị đơn chị Nguyễn Thị L có quan điểm trình bày, chị thừa nhận có nợ ngân hàng như Ngân hàng trình bày là đúng. Chị chỉ mong Ngân hàng và Tòa án xem xét tạo điều kiện cho gia đình chị trả nợ dần và xin được miễn lãi để chị có khả năng trả nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P, buộc anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP P số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Đối với lãi chậm trả lãi, phí thì không chấp nhận do hợp đồng tín dụng ký kết trước ngày 01/01/2017. Trường hợp anh S, chị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Ngân hàng TMCP P đã khởi kiện đã làm đơn theo đúng mẫu, nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Quá trình làm việc, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xác định chị Nguyễn Thị Mĩ L2 – sinh ngày: 14/11/1995 có thông tin xuất cảnh lần cuối ngày 23/9/2019 chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 41 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa chuyển thẩm quyền vụ án lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình làm việc, Tòa án không xác định được địa chỉ cụ thể của chị Nguyễn Thị Mĩ L2. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Bị đơn anh Nguyễn Thế S; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai những họ vẫn vắng mặt tại phiên toà xét xử vụ án không có lý do chính đáng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về việc vay nợ giữa anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L với Ngân hàng TMCP P theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng:

Việc ký kết hợp đồng tín dụng số Hợp đồng số 148/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 21/5/2011 vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn) và Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0018/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 28/01/2011 số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) giữa ngân hàng và anh S, chị L trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo theo quy định của pháp luật. Theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ thì bị đơn đã nhận đủ số tiền vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh S chị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu anh chị trả nợ nhưng anh chị đều không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, toàn bộ khoản nợ của anh chị bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 28/01/2021 đối với hợp đồng tín dụng số 0018/11/TL/HĐTDNH/CN và ngày 23/5/2016 đối với Hợp đồng tín dụng số 148/11/ TL/HĐTDTH/CN và phải chịu mức lãi suất quá hạn là phù hợp với nội dung thỏa thuận của hai bên đã được ký kết trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ và phù hợp quy định của pháp luật.

[3]. Về lãi suất:

Tại Khế ước nhận nợ số 01/148/KUNN ngày 23/5/2011, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 25%/năm, phương thức áp dụng: lãi suất cố định trong suốt thời gian vay. Trong trường hợp biến động thị trường, chính sách thay đổi thì H sẽ xem xét quyết định điều chỉnh và áp dụng theo thông báo của H từng thời kỳ trong suốt thời gian vay thực tế kể cả thời gian vượt quá thời hạn vay.

Tại khế ước nhận nợ số 01/0018/11/TL/KUNN ngày 28/01/2011, các bên thỏa thuận thống nhất lãi suất vay trong hạn là 21%/năm, hình thức áp dụng theo quy định của H1.

Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 nên cần được chấp nhận.

[3.1]. Về lãi trong hạn:

- Tính đến ngày 27/9/2024, khoản nợ lãi trong hạn theo Hợp đồng tín dụng số 0018/11/TL/HĐTDNH/CN ngày 28/01/2011 và Khế ước nhận nợ số 01/0018/11/TL/KUNN ngày 28/01/2011 là 4.246.112.919 đồng.

- Tính đến ngày 27/9/2024, khoản nợ lãi trong hạn theo Hợp đồng tín dụng số 148/11/TL/HĐTDNH/CN ngày 21/5/2011 và Khế ước nhận nợ số 01/148/11/TL/KUNN ngày 23/5/2011 là 328.420.737 đồng.

Tổng nợ lãi trong hạn tạm tính đến ngày 27/9/2024 của cả hai hợp đồng tín dụng nêu trên là: 4.574.533.656 đồng

Việc thỏa thuận lãi suất, điều chỉnh lãi suất là phù hợp quy định của pháp luật nên yêu cầu về lãi trong hạn của Ngân hàng được chấp nhận.

Vây, cần buộc anh S, chị L phải thanh toán cho H số tiền lãi trong hạn của hai hợp đồng tín dụng đã ký là: 4.574.533.656 đồng.

[3.2]. Về lãi quá hạn:

- Về lãi quá hạn đối với dư nợ gốc:

  • + Tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 0018/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 28/01/2011 quy định lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
  • + Tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 148/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 21/5/2011 quy định: lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn.

Như vậy, Thỏa thuận này là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng và Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 nên cần được chấp nhận. Do vậy cần buộc anh S chị L phải thanh toán khoản nợ lãi quá hạn trên dư nợ gốc tính đến 27/9/2024 là: 1,949,015,524 đồng. Trong đó, hợp đồng số 0018 là 1,321,653,669 đồng; Hợp đồng 148 là 627,361,855 đồng.

Về lãi quá hạn trên dư nợ lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi quá hạn trên dư nợ lãi của cả hai hợp đồng tín dụng tính đến ngày 27/9/2024 là: 1,381,113,185 đồng

HĐXX thấy rằng yêu cầu này không phù hợp với Quy định tại Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 và quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không được chấp nhận.

Ngoài ra anh S, chị L còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp thì thấy:

- Khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận biện pháp bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ: 04, diện tích là 318,6m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP ., GCNQSD đất số T 364376; số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 0345.QSDĐ, do Chủ tịch UBND huyện Ứ cấp ngày 13/4/2004 cho hộ ông Nguyễn Thế S, Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 012548/2011, quyển số 08 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 27/01/2011 và phụ lục Hợp đồng thế chấp ngày 17/5/2011 đều của Văn Phòng C. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được lập đúng theo quy định của pháp luật tại 343 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 298 Bộ luật dân sự 2015. Như vậy, thoả thuận về tài sản đảm bảo khoản vay là hợp pháp. Do đó, khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ (không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ) thì Ngân hàng TMCP phát triển thành phố P có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là có căn cứ.

Đối với quan điểm trình bày của chị Nguyễn Thị T về việc tài sản thế chấp: chị T cho rằng mình có quyền lợi liên quan đến tài sản thế chấp vì đây là tài sản của bố mẹ, mẹ chị chết thì chị phải có phần. Hội đồng xét xử nhận thấy, chị T là một trong những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà L4. Tại thời điểm thế chấp, bà Lụa là thành viên trong hộ anh Nguyễn Thế S, đã đồng ý dùng tài sản thuộc quyền sử dụng của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán nợ của anh S, chị L tại ngân hàng. Do đó, bà L4 chết, chị T là một trong những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L4 bà phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bà L4 theo quy định của pháp luật về thế chấp tài sản.

Trường hợp phát mại tài sản không đủ để thu hồi nợ thì bị đơn tiếp tục phải trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mại tài sản lớn hơn số tiền nợ thì phải trả lại cho chủ tài sản số tiền còn thừa.

[5] Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, anh S, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho ngân hàng.

Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

Hoàn trả H số tiền tạm ứng án phí đã nộp còn thừa.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 290, 302, 305, 343, 351, 355, 471, 474, 716 và Điều 719 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 298, 325 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Điều 35; khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, 277; 278 Điều 271, Điều 273 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP phát triền Thành phố H (H).

    Buộc anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố P tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 27/9/2024 của:

    • Hợp đồng số 148/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 21/5/2011 là:
      • Nợ gốc: 345,550,000 đồng
      • Nợ lãi trong hạn: 328,420,737 đồng
      • Nợ lãi quá hạn: 627,361,855 đồng
      • Tổng: 1,301,332,592 đồng
    • Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0018/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 28/01/2011 là:
      • Nợ gốc: 1,254,680,981 đồng
      • Nợ lãi trong hạn: 4,246,112,919 đồng
      • Nợ lãi quá hạn: 1,321,653,669 đồng
      • Tổng 6,822,447,569 đồng
    • Tổng của cả hai hợp đồng là:
      • Nợ gốc: 1,600,230,981 đồng
      • Nợ lãi trong hạn: 4,574,533,656 đồng
      • Nợ lãi quá hạn: 1,949,015,524 đồng
      • Tổng số tiền của cả hai hợp đồng tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 8,123,780,161 đồng (Tám tỷ, một trăm hai mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, một trăm sáu mươi mốt đồng.)
  2. Bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố P về yêu cầu tính lãi quá hạn trên dư nợ lãi đối với bị đơn anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L theo hai hợp đồng tín dụng đã ký tổng số tiền đến ngày 27/9/2024 là: 1,381,113,185 đồng. Trong đó:
    • * Nợ lãi quá hạn trên lãi của Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0018/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 28/01/2011 là:1.160.896.114 đồng
    • * Nợ lãi quá hạn trên lãi của Hợp đồng số 148/11/TL/HĐTDTH/CN ngày 21/5/2011 là: 220,217,060 đồng.
  3. Kể từ ngày 28/9/2024, anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất đã được thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
  4. Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu vợ chồng anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố P thì Ngân hàng được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ: 04, diện tích là 318,6m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP ., GCNQSD đất số T 364376; số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 0345.QSDĐ, do Chủ tịch UBND huyện Ứ cấp ngày 13/4/2004 cho hộ ông Nguyễn Thế S, Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 012548/2011, quyển số 08 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 27/01/2011 và phụ lục Hợp đồng thế chấp ngày 17/5/2011 đều của Văn Phòng C.
  5. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố P thì anh S, chị L có nghĩa vụ tiếp tục trả hết số tiền còn nợ Ngân hàng. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản.
  6. Về án phí: Anh Nguyễn Thế S và chị Nguyễn Thị L phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 116. 123.780 đồng. (Một trăm mười sáu triệu, một trăm hai mươi bà nghìn, bảy trăm tám mươi đồng.)

    Ngân hàng TMCP phát triển thành phố P phải chịu số tiền án phí là: 51,039,978 đồng (Năm mươi mốt triệu, không trăm ba mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi tám đông.) Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là: 56.830.000 đồng. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm còn thừa là 5,790,022 đồng. (Theo biên lai số 0057411 ngày 28/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Tp ..)

  7. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi thường trú đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Ứng Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 120/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger