TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2024 V/v "Tranh chấp ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nghĩa và ông Trần Đại Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Trầm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 257/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Buôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trình bày: Nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Văn K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2008, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2008, ngày 04 tháng 6 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 18/8/2009; Nguyễn Trần Anh K1, sinh ngày 16/10/2013; Nguyễn Trần Khánh N1, sinh ngày 09/4/2020 (hiện đang ở với nguyên đơn). Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trần Thị Kim T giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Kim T được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn K. Về con chung: Giao ba con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 18/8/2009; Nguyễn Trần Anh K1, sinh ngày 16/10/2013; Nguyễn Trần Khánh N1, sinh ngày 09/4/2020 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trần Thị Kim T xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn K là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[1.2] Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Trần Thị Kim T và bị đơn anh Nguyễn Văn K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2008, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2008, ngày 04 tháng 6 năm 2008 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, phát sinh những mâu thuẫn như nguyên đơn trình bày. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Kim T được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn K.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 18/8/2009; Nguyễn Trần Anh K1, sinh ngày 16/10/2013; Nguyễn Trần Khánh N1, sinh ngày 09/4/2020. Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nguyện vọng của cháu N và cháu K1, hiện cháu N1 còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ nên Hội đồng xét xử giao ba con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 18/8/2009; Nguyễn Trần Anh K1, sinh ngày 16/10/2013; Nguyễn Trần Khánh N1, sinh ngày 09/4/2020 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Kim T được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao ba con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 18/8/2009; Nguyễn Trần Anh K1, sinh ngày 16/10/2013; Nguyễn Trần Khánh N1, sinh ngày 09/4/2020 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Trần Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002669 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Trần Thị Kim Thảo và bị đơn Nguyễn Văn Khánh
