|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/DS-ST
Ngày: 25 - 9 - 2024
V/v: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- 2/ Ông Võ Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 158/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127A/2024/QĐXXST - DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐ-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Kim T, sinh năm 1980 (vợ ông T1) (đồng thời là người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T1 (ông T1 đã chết) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ngân hàng thương mại cổ phần A
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Trụ sở: Tầng A, 2, 3 Tòa nhà G, Số C H, Phường Ô, Quận Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Trọng N, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: A P, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Năm 2012 bà Nguyễn Thị T2 là mẹ ruột ông Trần Văn C có chuyển nhượng lại một phần đất cho ông Nguyễn Văn T1. Đến năm 2021 ông T1 chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn L. Đến sau này khi xem lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông C mới phát hiện có sai sót trong quá trình làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay ông L đứng tên có dính một phần đất nguyên đơn đang sử dụng. Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 trả lại phần đất diện tích khoảng 75m². Đến ngày 17/5/2024 ông C có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Trần Văn L trả lại phần đất diện tích 72,6m đất thuộc thửa 1088 vì trên phần đất này có dính một phần nhà và hàng rào của gia đình nguyên đơn.
Bị đơn ông Trần Văn L trong quá trình giải quyết vụ án, ông L không có mặt ở địa phương, Toà án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông L vắng mặt không có lý do nên không có lời khai của ông L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim T trình bày: Quan hệ giữa bà T và ông T1 là vợ chồng, chung sống với nhau năm 2017 và có 01 con chung. Phần đất tại thửa 1088 ông T1 nhận chuyển nhượng của bà T2 khi nào bà không biết, chỉ biết hiện nay ông T1 đã chuyển nhượng lại cho ông L nên bà T cho rằng không có liên quan gì.
Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần A trình bày: Đối với phần đất tranh chấp 72,6m² có 01 dính một phần nhà và hàng rào do ông Trần Văn C xây dựng. Phần đất này hiện nay ông Trần Văn L đã thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần A để đảm bảo cho việc vay vốn. Thời điểm ngân hàng thẩm định tài sản thế chấp của ông L là phần đất thuộc thửa 1088 diện tích 575m² khi đó ông L cho rằng trên đất không có nhà cửa gì nên ngân hàng tin tưởng ông L nên không tiến hành đo đạc thực tế đối với thửa đất do đó không phát hiện có một phần nhà và hàng rào của ông C đã xây dựng và đang sử dụng. Ngày 06/6/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty TNHH N1 vay vốn và ký hợp đồng cho vay hạn mức số 0329/22/TD/SME/005 số tiền gốc 680.000.000 đồng, ông Trần Văn L và Ngân hàng thương mại cổ phần A đã ký kết hợp đồng thế chấp số 0348/22/TC/SME/005 ngày 08/6/2022 thế chấp phất đất diện tích 575m², thửa 1088, đất trồng cây lâu năm. Giá trị tài sản bảo đảm đối với ngân hàng thương mại cổ phần A là 1.110.000.000đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần A cho rằng do tin tưởng ông L nên không thẩm định rõ ràng đối với tài sản thế chấp, ông L cho rằng trên đất không có nhà nên ngân hàng không có đo đạc thực tế lại diện tích phần đất thế chấp nên không biết việc trên đất có một phần nhà và hàng rào của ông L. Nay ngân hàng thương mại cổ phần A không yêu cầu gì trong vụ án này.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận và ổn định cho ông Trần Văn C phần đất diện tích 72,6m² tại vị trí số III thuộc thửa 1088 tờ bản đồ 74 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 23/7/2024 của Công ty TNHH Đ1. Ông Trần Văn C có nghĩa vụ trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn L 63.615.169 đồng cho ông Trần Văn L. Huỷ một phần Hợp đồng thế chấp số 0348/22/TC/SME/005 ngày 08/6/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A và ông Trần Văn L đối với phần đất 72,6m². Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần A giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00135 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 21/01/2011 được chuyển nhượng cho ông Trần Văn L theo hồ sơ số 067552.CN.005 ngày 24/12/2020 để ông Trần Văn C làm thủ tục cấp giấy theo quy định. Ông Trần Văn C được quyền liên hệ cơ quan chuyên môn để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Thị T3, Đào Thị L1, Đào Thị Kim K, Đào Ngọc T4, Đào Thị Kim T5 đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Ông C yêu cầu ông Trần Văn L trả lại phần đất theo đo đạc thực tế là 72,6m² vì cho rằng trước đó mẹ ông là bà Nguyễn Thị T2 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1 phần đất tại thửa 1088 tuy nhiên không có chuyển nhượng phần đất tranh chấp. Hiện nay phần đất tại thửa 1088 đã được ông T1 chuyển nhượng lại cho ông L. Hội đồng xét xử thấy rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/6/2016 được lập giữa bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Văn T1 thì phần đất tại thửa 1088 đã được chuyển nhượng toàn bộ cho ông T1, do đó ông T1 chuyển nhượng lại cho ông L là phù hợp quy định pháp luật. Do đó ông C cho rằng ông T1 làm giấy chứng nhận chồng lên phần đất của ông là không đúng. Tuy nhiên hiện nay phần đất 72,6m² ông C đã cất nhà ở ổn định và xây hàng rào trên đất nếu buộc ông C tháo dở, di dời thì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu căn nhà do đó cần ổn định cho ông C phần đất này và ông C có nghĩa vụ trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn L.
Để đảm bảo cho khoản nợ vay của Công ty TNHH N1 theo hợp đồng tín dụng số 0329/22/TD/SME/005 ngày 06/6/2022 để vay số tiền gốc 680.000.000 đồng, ông Trần Văn L và Ngân hàng thương mại cổ phần A đã ký kết hợp đồng thế chấp số 0348/22/TC/SME/005 ngày 08/6/2022 thế chấp phất đất diện tích 575m², thửa 1088, đất trồng cây lâu năm. Giá trị tài sản bảo đảm đối với ngân hàng thương mại cổ phần A là 1.110.000.000đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần A cho rằng do tin tưởng ông L nên không thẩm định rõ ràng đối với tài sản thế chấp, ông L cho rằng trên đất không có nhà và ngân hàng không có đo đạc thực tế lại diện tích phần đất thế chấp nên không biết việc trên đất có một phần nhà và hàng rào của ông L. Mặc dù Toà án đã nhiều lần giải thích cho ngân hàng thương mại cổ phần A về quyền và nghĩa vụ trong vụ án nhưng ngân hàng không yêu cầu gì trong vụ án này do đó Toà án giải quyết theo quy định. Do việc nhận thế chấp tài sản nhưng không thẩm định rõ ràng dẫn đến trên đất hiện có nhà và hàng rào của ông C với diện tích 72,6m² nên buộc phải huỷ một phần hợp đồng thế chấp để ổn định cho ông Trần Văn C.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 106, 158, 166, 241, 317, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 168, Điều 169 của Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn C.
- Công nhận và ổn định cho ông Trần Văn C phần đất diện tích 72,6m² tại vị trí số III thuộc thửa 1088 tờ bản đồ 74 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 23/7/2024 của Công ty TNHH Đ1.
- Ông Trần Văn C có nghĩa vụ trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn L 63.615.169 đồng cho ông Trần Văn L.
- Huỷ một phần Hợp đồng thế chấp số 0348/22/TC/SME/005 ngày 08/6/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A và ông Trần Văn L đối với phần đất 72,6m².
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn C phải chịu là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng ông C đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011180 ngày 01/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Chi phí thẩm định, định giá tài sản ông Trần Văn C phải chịu là 6.944.000 đồng. Ông C đã nộp xong.
Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần A giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00135 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 21/01/2011 được chuyển nhượng cho ông Trần Văn L theo hồ sơ số 067552.CN.005 ngày 24/12/2020 để ông Trần Văn C làm thủ tục cấp giấy theo quy định.
Ông Trần Văn C được quyền liên hệ cơ quan chuyên môn để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Hoài Ân |
Bản án số 120/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 120/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
