Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Quý và bà Nguyễn Thị Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn D; tên gọi khác: không; sinh ngày 03/3/1981, tại huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông: Hoàng Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ: Nguyễn Thị Q và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: ông Phạm Hoàng N1, sinh năm: 1965, nơi cư trú: tổ G, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà.

Người đại diện theo uỷ quyền: bà Vũ Bạch D1, sinh năm 1976, nơi cư trú: tổ B, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1990, nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.

+ Công ty Cổ phần X; địa chỉ: thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; người đại diện hợp pháp: ông Ngô Sơn H1 – chức vụ: Giám đốc, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng: anh Phạm Đức A, vắng mặt tại phiên tòa.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 11/4/2024, tại đường L, đoạn thuộc tổ A, khu C, phường C, thành phố C, Hoàng Văn D (có giấy phép lái xe hạng E) điều khiển xe ô tô buýt chở khách, biển kiểm soát (BKS) 14B-027.87 đi hướng phường M - phường C. Khi đi đến đoạn đường trên, do D điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua khu vực đông dân cư, trời mưa, mặt đường trơn trượt, nên phần thành xe bên trái đã đâm vào phía sau xe mô tô BKS 14K9-3409 do ông Phạm Hoàng N1 (sinh năm 1965; trú tại tổ G, khu G, phường C) đang điều khiển sang bên phải đường theo hướng từ trái sang phải theo chiều đi của ô tô, làm ông N1 bị ngã xuống đường, gây tai nạn. Hậu quả: ông N1 bị thương tích, 02 phương tiện bị hư hỏng. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông do Hoàng Văn D điều khiển xe ô tô không không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua khu vực đông dân cư, trời mưa, mặt đường trơn trượt. Còn ông Phạm Hoàng N1 điều khiển xe mô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã đến cơ quan Công an khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: khu vực xảy ra tai nạn là đường L (thuộc nội thị phường C), đường trải nhựa, bằng phẳng. Chiều rộng tại vị trí xảy ra tai nạn là 10,07m. Giữa đường có vạch sơn đứt quãng chia 2 chiều đường ngược chiều. Chiều M - C rộng 5,3m. Chiều C - M rộng 4,77m. Đường hơi cong cua về bên trái theo chiều M - C. Hai bên đường là vỉa hè và khu vực nhà dân sinh sống. Các số đo được đo vào mép đường phải theo chiều M - C, mốc là mép nhà bên trái của số nhà B, dấu vết như sau: (1) Vết phanh xe ô tô (ký hiệu 1a và 1b) nằm ở phần đường M - C, chiều M - C, dấu vết hình cung, chếch vào lề đường: Vết (1a) dài 8,55m, vết phanh kép, rộng 0,33m, điểm đầu cách mép đường 1,5m, điểm cuối tại vị trí lốp sau bên phải xe ô tô 14B-027.87; Vết (1b) dài 3,9m, vết phanh kép, rộng 0,33m, điểm đầu cách mép đường 1,5m và cách điểm đầu vết (1a) là 4,4m, điểm cuối tại vị trí lốp sau bên trái xe ô tô 14B-027.87. (2) Xe ô tô 14B-027.87 đỗ sát mép đường, đầu quay hướng C, một phần thân xe nằm trên vỉa hè; Trục bánh trước và sau bên phải lần lượt cách mép đường 1,75m và 1,1m. (3) Vết cày xước mặt đường nằm ở phần đường M - C dài 3,3m; điểm đầu cách mép đường 4,5m, cách điểm đầu vết (1a) 4,3m; điểm cuối tại vị trí đầu ống xả xe mô tô 14K9-3409, nơi tiếp xúc mặt đường. (4) Xe mô tô 14K9-3409 nằm ở phần đường M - C, đổ nghiêng phải, đầu xe quay hướng Mông Dương; trục bánh trước cách mép đường 4,4m; trục bánh sau cách mép đường 4,3m và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 14B-027.87 là 0,7m. Tại cửa hàng xăng dầu số 04 ở hiện trường vụ án có lắp đặt 01 camera ghi lại sự việc.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện thể hiện:

3

- Xe ô tô BKS 14B-027.87: vòm cua lốp bên trái phía trước có vết thủng, rách kim loại, bong tróc sơn chiều trước về sau, trong diện (13x14) cm, điểm thấp nhất cách đất 31cm.

- Xe mô tô BKS 14K9-3409: mặt trước cần gương chiếu hậu bên phải trượt xước kim loại, diện (02x01) cm. Gãy đầu tay phanh bên phải. Cánh yếm bên phải tung bật chốt hãm. Ốp kim loại bảo vệ ống pô trượt xước kim loại, diện (31x7) cm, điểm thấp nhất cách đất là 34cm. Mặt trước lỗ thoát hơi của ống pô trượt xước kim loại, bám dính chất màu đỏ trong diện (05x05) cm, điểm thấp nhất cách đất là 30cm. Mặt ngoài ốc bắt vít ốp pô thứ 2 (tính từ trên xuống dưới) bám dính chất bột màu trắng. Mặt ngoài lốc máy bên trái trượt xước kim loại.

Tại bản Kết luận giám định số 382 ngày 09/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định của ông Phạm Hoàng N1 là 84%.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 84 ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: giá trị thiệt hại vật tư thay thế của xe ô tô 14B-027.87 là 1.000.000 đồng; của xe mô tô 14K9-3409 là 330.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 2314/CT-VKS-CP ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo Hoàng Văn D về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Văn D khai nhận hành vi phạm tội xảy ra ngày 11/4/2024 như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo còn khai đoạn đường xảy ra tai nạn hơi cua về bên trái, thời tiết mưa phùn nhẹ, mặt đường ẩm ướt. Thời điểm trước khi xảy ra va chạm, bị cáo điều khiển xe đi tốc độ khoảng 60km/h, quan sát thấy phía trước có 01 xe mô tô do 01 người đàn ông điều khiển đang chuyển hướng sang đường từ trái sang phải, cách phía trước xe của bị cáo khoảng 10m, nhưng do chủ quan, nên bị cáo không giảm tốc độ, dẫn đến tai nạn. Sau đó bị cáo đến Công an phường C để khai báo nội dung sự việc, hậu quả việc bị cáo gây tai nạn khiến ông N1 bị thương tích tổn thương cơ thể là 84%, xe máy của ông N1 và xe ô tô bị cáo điều khiển cũng bị hư hỏng nhẹ. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo và gia đình đã đến thăm hỏi động viên gia đình người bị hại, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho gia đình ông N1 số tiền 200.000.000 đồng. Đến nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Vũ Bạch D1 có đơn xin xử án vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan điều tra cụ thể như sau: ngày 11/4/2024 anh N1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14K9-3409 xảy ra tai nạn giao thông với xe ô tô bus

4

do anh Hoàng Văn D điều khiển dẫn đến bị thương tích nặng. Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã đến nhà chị thăm hỏi động viên và bồi thường thiệt hại sức khoẻ cho anh N1 với số tiền 200.000.000 đồng, hiện anh N1 sức khoẻ cũng rất yếu, vẫn đang phải điều trị tại bệnh viện chi phí cũng tốn kém nhưng gia đình không có yêu cầu gì khác. Bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có thể tiếp tục đi làm, giúp đỡ gia đình, nuôi dạy con cái.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Nguyễn Thị Q có mặt tại phiên tòa, có lời khai cụ thể như sau: chị là vợ của bị cáo Hoàng Văn D, chiếc xe ô tô biển kiểm soát 14B – 027.87 trên giấy tờ đăng ký đứng tên Công ty cổ phần X, vợ chồng chị mua lại xe và hợp tác kinh doanh cùng Công ty để khai thác tuyến xe bus M - B. Sau khi tai nạn xảy ra ngày 11/4/2024, chị cùng với bị cáo đã bồi thường dân sự cho gia đình người bị hại với số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng), chị không có yêu cầu bồi thường thiệt hại do xe ô tô bị hỏng.

Ông Ngô Sơn H1, Giám đốc của Công ty Cổ phần X – là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quan điểm: xe ô tô biển kiểm soát 14B – 027.87 trên giấy tờ đăng ký đứng tên Công ty cổ phần X nhưng chiếc xe đã được chị Nguyễn Thị Q mua lại và gửi vào Công ty để chạy theo tuyến M - B. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo Hoàng Văn D có thông báo cho Công ty được biết, đến nay Công ty không có yêu cầu gì khác, đối với phương tiện là xe ô tô 14B-027.87 Công ty không yêu cầu các bên phải bồi thường.

Người làm chứng là anh Phạm Đức A vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: vào khoảng 06 giờ 21 phút ngày 11/4/2024 khi anh đang bán xăng cho khách ở cửa hàng xăng dầu số D (địa chỉ: tổ A, khu C, phường C, thành phố C) thì anh thấy có một xe ô tô bus đi từ hướng M - C với tốc độ nhanh, ở phía trước đầu xe ô tô di chuyển có một xe mô tô do một người đàn ông điều khiển đang sang đường (xe mô tô sang đường từ trái sang phải theo hướng xe ô tô di chuyển), do sự việc xảy ra nhanh anh không biết chính xác khoảng cách giữa hai xe là bao nhiêu mét. Ngay sau đó anh nghe thấy tiếng va chạm rất mạnh giữa hai phương tiện, đồng thời anh cũng nhìn thấy hai phương tiện va chạm với nhau rồi sau đó xe ô tô dừng lại ở vị trí vỉa hè còn xe mô tô có một người đàn ông đang nằm bất tỉnh, đầu chảy nhiều máu. Anh thấy từ ghế lái của xe ô tô bus có một người đàn ông khoảng 40 tuổi bước xuống xe đỡ nạn nhân lên rồi gọi xe đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Mật độ tham gia giao thông lúc đó bình thường, trời sáng, không mưa, mặt đường ướt do trước đó trời có mưa.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Hoàng Văn D từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 (ba sáu) tháng đến 48 (bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám

5

sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Cấm hành nghề trong thời hạn 01 năm đối với bị cáo.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn D 01 (một) giấy phép lái xe do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp. Đối với chiếc USB là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu tại hồ sơ vụ án.

Tại phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận gì thêm, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn D, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai của bị cáo Hoàng Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với: lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Q và đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần X cùng với người làm chứng; lời khai của bị cáo còn phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông; các bản ảnh hiện trường, bản ảnh tổn thương cơ thể trên người sống và các bản ảnh cắt ra từ video thu thập được; Biên bản và bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Kết luận giám định số 382 ngày 09/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y; Bản Kết luận định giá tài sản số 84 ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C; Biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông cùng nhiều tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Với các chứng cứ nêu trên cùng toàn bộ tài liệu cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: 06 giờ 20 phút ngày 11/4/2024, tại đường L, thuộc tổ A, khu C, phường C, thành phố C, Hoàng Văn D điều khiển xe ô tô 14B-027.87 đi hướng phường M - phường C, do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua khu vực đông dân cư, trời mưa, mặt đường trơn trượt, nên đã đâm vào phía sau xe mô tô BKS 14K9-3409 do ông Phạm

6

Hoàng N1 đang điều khiển chuyển hướng sang đường, từ trái sang phải theo chiều đi của xe ô tô, làm ông N1 bị thương tích, tổn hại 84% sức khoẻ, 02 phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Bị cáo điều khiển xe ô tô không chấp hành quy định tại khoản 1, 2 Điều 12 Luật giao thông; khoản 5, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019 của Bộ G, đã gây hậu quả thiệt hại về sức khoẻ của ông Phạm Hoàng N1 và thiệt hại nhẹ về tài sản, bị cáo đã phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên bản Cáo trạng số 2314/CT-VKS-CP ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị Hoàng Văn D theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khoẻ và tài sản của người khác; gây tâm lý bức xúc, lo sợ trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, làm ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự trị an trên địa bàn. Do đó cần xử lý nghiêm mới đảm bảo ý nghĩa giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, rất ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, sau khi gây tai nạn đã tích cực thăm hỏi, động viên kịp thời gia đình bị hại, bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 200.000.000 đồng. Tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xử án vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn có đơn xác nhận của chính quyền địa phương, ngoài ra cũng xác định trong vụ án này bị hại có một phần lỗi, điều khiển xe mô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

[6] Về trách nhiệm dân sự: gia đình của bị hại đã được nhận số tiền 200.000.000 đồng bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

7

[7] Về vật chứng: quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả 01 xe ô tô biển kiểm soát 14B – 027.87, xe mô tô 14K9-3409 và giấy tờ liên quan cùng với xe cho các chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.

Đối với giấy phép lái xe ô tô hạng E đã thu giữ của bị cáo, hiện lưu tại hồ sơ vụ án, nên cần trả lại cho bị cáo. Chiếc USB lưu trữ video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn, đây là tài liệu chứng cứ của vụ án cần lưu tại hồ sơ.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt: Hoàng Văn D 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn D cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo D.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đối với bị cáo Hoàng Văn D.

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn D 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Hoàng Văn D, do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 19/12/2023.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Hoàng Văn D phải nộp: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

8

- Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử sơ thẩm, công khai, có mặt: bị cáo, chị Nguyễn Thị Q – là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; vắng mặt: bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Công ty cổ phần X. Người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh QN;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả
  • - Cơ quan điều tra Công an TP Cẩm Phả,
  • CQ THA hình sự thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả;
  • - Bị cáo, bị hại và người đại diện của bị
  • hại; người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt: Hoàng Văn D 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger