Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HSST

Ngày: 16-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Đình Tuấn.

Ông Lâm Đức Hiếu;

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-QĐ ngày 04 tháng 09 năm 2024, Quyết định thay đổi hội thẩm nhân dân số 31/QĐ-CA ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:

Lương Văn T; sinh ngày: 09 tháng 8 năm 1980 tại: Lạng Sơn; nguyên quán: Lạng Sơn; nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: số C, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; số căn cước công dân: [...] cấp ngày 21 tháng 9 năm 2022; nơi cấp: Cục C3 về TTXH - Bộ C4; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Lương Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị B (đã chết); vợ: Nguyễn Thu N (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32 ngày 15/6/2016 của UBND tỉnh L về hành vi Vận chuyển hàng hóa nhập lậu, vận chuyển hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, phạt tiền 220.000.000₫ (chưa nộp phạt); nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 94 ngày 15/01/2016 của Công an tỉnh L về hành vi Buôn bán vận chuyển hàng hóa nhập lậu, phạt tiền 7.500.000₫ (Đã nộp phạt); bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 12/01/2024 đến nay.

2) Nông Văn Đ; sinh ngày: 03 tháng 02 năm 1988 tại: Lạng Sơn; nguyên quán: Lạng Sơn; nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: thôn N, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; số căn cước công dân: [...] cấp ngày 24 tháng 6 năm 2021; nơi cấp: Cục C3 - Bộ C4; trình độ học vấn: 06/12; con ông: Nông Văn P và bà Vi Thị B1; vợ: Chu Thị X; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 12/01/2024 đến nay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Chu Thị H, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt;

- Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Hồng N1, vắng mặt.
  2. Anh Luân Quốc Đ1, vắng mặt.
  3. Anh Lý Thanh S, vắng mặt.
  4. Anh Đỗ Văn B2, vắng mặt.
  5. Ông Hứa Văn S1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 00 phút ngày 11/01/2024, tại số C, đường T, khối T, phường C, thành phố L, Tổ công tác Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang 06 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Lương Văn T (chủ nhà), Nông Văn Đ, Vũ Hồng N1; L, Lý Thanh SĐỗ Văn B2 thu giữ trong túi áo khoác bên trái của Lương Văn T đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng ( kích thước 03 cm x 03 cm) bên trong chứa 09 (chín) viên nén màu hồng và 01 (một) túi nilon màu trắng ( kích thước 03cm x 03 cm) bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; Lương Văn TNông Văn Đ cùng khai nhận là ma túy đá, ngựa đã cùng nhau góp tiền mua để sử dụng, thu giữ trên nền nhà trong phòng ngủ của Lương Văn T 02 (hai) mảnh giấy bạc bên trên đều có bám dính chất màu đen, 01 (một) bật lửa ga nhãn hiệu “Thong Nhat” màu xanh, thu giữ trong tủ quần áo phòng ngủ của Lương Văn T 01 (một) bình thủy tinh có gắn vòi hút nhựa.

Ngoài ra còn tạm giữ các đồ vật, tài sản: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đỏ lắp kèm sim số thuê bao 0349.057040 và số tiền 355.000₫ (Ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng) của Lương Văn T. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh - trắng, lắp kèm sim số thuê bao 0347.864.176 cũ đã qua sử dụng và 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát: 12V1-060.47 của Nông Văn Đ.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau:

Lương Văn T, Nông Văn Đ, Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh SĐỗ Văn B2 đều là các đối tượng sử dụng chất ma túy tổng hợp dạng “đá, ngựa”. Khoảng hơn 20 giờ ngày 11/01/2024, Khi Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh SĐỗ Văn B2 đang ngồi chơi trong nhà cùng với Lương Văn T thì Nông Văn Đ điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12V1-060.47 đến gọi Lương Văn T ra sân trước cửa nhà và rủ Lương Văn T cùng góp tiền mua ma túy “đá, ngựa” để sử dụng, Lương Văn T đồng ý và bảo Nông Văn Đ chuyển tiền vào số tài khoản 0349057040 ngân hàng M1 của Lương Văn T. Nông Văn Đ sử dụng điện thoại chuyển tiền từ tài khoản 9347864176 ngân hàng V của Nông Văn Đ vào số tài khoản trên của Lương Văn T 02 lần với tổng số tiền là 600.000đ, trong đó có 200.000₫ Nông Văn Đ vay Nông Văn N2. Sau đó, Lương Văn T đi bộ đến gặp chị Ty Thị T1 là chủ quán tập hóa tại địa chỉ số A, đường T, phường C, thành phố L chuyển khoản 1.010.000₫ đổi lấy 1.000.000đ tiền mặt để mua ma túy. Lương Văn T sử dụng điện thoại Vivo lắp sim số 0349.057.040 gọi vào số 0867.522.829 (lưu trong danh bạ điện thoại là Ch H) cho một người phụ nữ tên H1 (không rõ lai lịch) trao đổi thỏa thuận mua 11 (mười một) viên ma túy “ngựa” và ma túy “đá” với giá 1.600.000đ, địa điểm giao dịch tại khu vực đường N (gần bưu điện tỉnh Lạng Sơn), phường V, thành phố L rồi đi taxi đến địa điểm trên gặp người phụ nữ tên H1 mua được số lượng ma túy như đã nêu trên. Lương Văn T cất ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi taxi về nhà. Lúc này, Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh S, Đỗ Văn B2 đang ngồi trong phòng ngủ của Lương Văn T, còn Nông Văn Đ đang ngồi ở phòng khách, Lương Văn T gọi Nông Văn Đ vào trong phòng ngủ của mình để cùng sử dụng ma túy. Lương Văn T lấy bình vòi, giấy bạc, bật lửa trong tủ quần áo ra làm dụng cụ sử dụng ma túy đồng thời lấy ra 02 (hai) viên ma túy “ngựa" cùng một lượng nhỏ ma túy “đá” từ trong số ma túy vừa mua để trên giấy bạc. Số ma túy “đá, ngựa" còn lại Lương Văn T cất vào trong túi áo đang mặc để sử dụng sau. Tiếp đó, Lương Văn T dùng bật lửa đốt mặt dưới giấy bạc để hơ nóng ma túy đá, ngựa rồi dùng bình vòi sử dụng trước rồi châm ma túy cho Nông Văn Đ, Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh S, Đỗ Văn B2 sử dụng, Đ cũng châm lửa hơ nóng ma túy cho Đỗ Văn B2 sử dụng. Khi cả nhóm vừa sử dụng xong số lượng chất ma túy do Lương Văn T lấy ra thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.

Xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể, xác định 06 đối tượng nêu trên đều dương tính với chất ma túy MET.

Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Chất tinh thể màu trắng và 09 (chín) viên nén màu hồng đã thu giữ của Lương Văn T đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,279 gam (đã trừ bì). Chất màu đen bám dính trên 02 (hai) mảnh giấy bạc đã giám định là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,085 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 108/CT-VKS ngày 21-08-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Chu Thị H có ý kiến: Chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12V1-060.47 là của chị, ngày 10/01/2024 chị đã cho Hoàng Văn C1 mượn chiếc xe này để làm phương tiện đi lại. Chiều ngày 11/01/2024, Nông Văn Đ đã mượn xe mô tô này từ Hoàng Văn C1 để sử dụng và bị C tạm giữ xe vì vi phạm pháp luật về ma túy. Việc Nông Văn Đ có hành vi vi phạm pháp luật, chị và Hoàng Văn C1 đều không biết, chị đã nhận lại chiếc xe, chị không có yêu cầu bồi thường gì, do bận công việc nên chị xin vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố,

Bị cáo Lương Văn T xin Hội đồng xét xử trả lại bị cáo số tiền 355.000đ (ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b, khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 17, 58, 50, 55 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 20 (hai mươi) tháng đến 22 (hai mươi hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ từ 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt cả 2 tội của các bị cáo theo quy định;

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung vì các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.

Căn cứ khoản điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định và các vỏ bao gói cũ; Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo. Trả lại bị cáo Lương Văn T số tiền 355.000 đồng.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, các bị cáo xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tòa án đã triệu tập người liên quan chị Chu Thị H, người làm chứng Anh Vũ Hồng N1, anh Luân Quốc Đ1, anh Lý Thanh S, anh Đỗ Văn B2, ông Hứa Văn S1. Tại phiên tòa hôm nay chị Chu Thị H, người làm chứng Anh Vũ Hồng N1, anh Luân Quốc Đ1, anh Lý Thanh S, anh Đỗ Văn B2, ông Hứa Văn S1 vắng mặt, trong hồ sơ đã có lời khai của người làm chứng và lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên và ý kiến xin giải quyết vắng mặt của chị Chu Thị H. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Chu Thị H và người làm chứng theo quy định tại điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Ngày 11/01/2024, tại nhà của Lương Văn T (số C, đường T, khối T, phường C, thành phố L) Nông Văn Đ đã rủ và góp tiền để Lương Văn T đi mua ma túy về cùng sử dụng. Lương Văn T là người cung cấp địa điểm, ma túy và công cụ sử dụng ma túy. Khi Lương Văn T vừa sử dụng công cụ đưa ma túy trái phép vào cơ thể Đỗ Văn B2, Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh SNông Văn Đ vừa cung cấp ma túy và sử dụng công cụ đưa ma túy trái phép vào cơ thể Đỗ Văn B2 thì bị phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 1,279 gam ma túy Methamphetamine trên người Lương Văn T (là phần còn lại của số ma túy TĐ cùng góp tiền mua trước đó) để sử dụng cho lần sau. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy va tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội các bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Để có mức hình phạt thỏa đáng, cần xem xét nhân thân, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo.

[5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án này cụ thể, Lương Văn T là người bỏ tiền nhiều hơn bị cáo Nông Văn Đ để mua ma túy, trực tiếp trao đổi về việc mua ma túy, cung cấp địa điểm, ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, trực tiếp đưa ma túy vào cơ thể 5 người. Nông Văn Đ là người rủ bị cáo Lương Văn T mua ma túy, bỏ tiền ra để góp vào mua ma túy, cung cấp ma túy, trực tiếp đưa ma túy vao cơ thể của 1 người do vậy xác định bị cáo Lương Văn T có vai trò cao hơn bị cáo Nông Văn Đ trong vụ án. Nông Văn Đ có vai trò thứ yếu trong vụ án.

[6] Bị cáo Lương Văn T: Về nhân thân xấu, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 94 ngày 15/01/2016 của Công an tỉnh L về hành vi Buôn bán vận chuyển hàng hóa nhập lậu, phạt tiền 7.500.000₫ (Đã nộp phạt). Tiền sự: quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32 ngày 15/6/2016 của UBND tỉnh L về hành vi Vận chuyển hàng hóa nhập lậu, vận chuyển hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, phạt tiền 220.000.000₫ (chưa nộp phạt); Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Bị cáo Nông Văn Đ: Về nhân thân tốt luôn chấp hành tốt pháp luật, chưa có vi phạm gì; Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có ông nội là Nông Văn C2 được tặng thưởng huân chương kháng chiến (có xác nhận của UBND xã H, thành phố L), có bố là ông Nông Văn P được công an tỉnh L tặng giấy khen vào năm 2007 và năm 2010 do có thành tích xuất sắc trong phòng chống tội phạm và bị cáo đã ủng hộ quỹ nhân đạo 1.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Các bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của bản thân. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Các bị cáo Lương Văn TNông Văn Đ không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản, sử dụng chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo (biên bản xác minh ngày 04-9-2024).

[10] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lương Văn T: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra lệnh thu giữ thư tín, điện tín để xác minh đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lương Văn T nhưng chưa làm rõ được để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Đối với Nông Văn N2Ty Thị T1, đã có giao dịch chuyển, nhận tiền với Lương Văn TNông Văn Đ, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Đối với Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh SĐỗ Văn B2 là những người đã sử dụng ma túy với Nông Văn ĐLương Văn T. Ngày 18/3/2024 Công an thành phố L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng Vũ Hồng N1, Luân Quốc Đ1, Lý Thanh SĐỗ Văn B2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

[13] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 12V1-12V1-060.47, số khung: RLHHC12166DY488660, số máy: HC12E-5488280, kết quả điều tra xác định chủ sở hữu là chị Chu Thị H. Ngày 10/01/2024, chị Chu Thị H cho Hoàng Văn C1 sử dụng xe mô tô trên để đi lại, việc Nông Văn Đ có hành vi vi phạm pháp luật chị H không được biết. Ngày 23/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu là chị H là có căn cứ.

[14] Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định kí hiệu 01, bên trong có 0,055 gam chất ma túy M và 02 mảnh giấy bạc cũ và 01 phòng bì đựng mẫu vật sau giám định kí hiệu 02, bên trong đựng 1,085 gam chất ma túy Methaphetamin; 01 bình thủy tinh có gắn vòi hút nhựa và 01 bật lửa ga nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, công cụ phạm tội có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[15] Đối với điện thoại di động nhãn hiệu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei 868975049815735 lắp kèm sim số thuê bao 0349.057040 của Lương Văn T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh - trắng, đã qua sử dụng, số Imei 86355304757811 lắp kèm sim số thuê bao 0347.864.176 của Nông Văn Đ. Đây là vật liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước.

[16] Đối với số tiền 355.000 đồng thu giữ của Lương Văn T, đây là tài sản của cá nhân của bị cáo Lương Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T có ý kiến xin Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định trả lại số tiền 355.000 đồng cho bị cáo Lương Văn T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[17] Về án phí: Bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nông Văn Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[18] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là tương đối phù hợp với tính chất hành vi phạm tội đã xảy ra. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nông Văn Đ nhân thân tốt có xác nhận của chính quyền địa phương, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung và cho bị cáo Nông Văn Đ thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[19] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 17, 47, 58, 50, 55 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn T và bị cáo Nông Văn Đ;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn Đ;

Căn cứ Điều 292, 293 điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T, bị cáo Nông Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1 Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Lương Văn T 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt cả 2 tội là 09 (chín) năm 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 12/01/2024.

2.2 Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Nông Văn Đ 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt cả 2 tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 12/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1 Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định kí hiệu 01, bên trong có 0,055 gam chất ma túy M và 02 mảnh giấy bạc cũ và 01 phòng bì đựng mẫu vật sau giám định kí hiệu 02, bên trong đựng 1,085 gam chất ma túy M và 02 túi nilon cũ 01 bình thủy tinh có vòi hút và 01 bật lửa ga nhãn hiệu Thống Nhất mầu xanh

3.2 Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ lắp kèm sim số thuê bao 0349.057040 của Lương Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh - trắng, lắp kèm sim số thuê bao 0347.864.176 cũ đã qua sử dụng của Nông Văn Đ (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2024).

3.3 Trả lại bị cáo Lương Văn T số tiền 355.000 (ba trăm năm mươi lăm nghìn) đồng thu giữ của Lương Văn T. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Số tiền 355.000 đồng hiện đang được tạm giữ tại tài khoản số 39.490.105.441.100.000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, mở tại Kho bạc Nhà nước L, theo Giấy nộp tiền số 134 ngày 04/9/2024)

4. Về án phí: Các bị cáo Lương Văn T, Nông Văn Đ mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lương Văn T, Nông Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Chu Thị H có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSNDTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHSCATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADSTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Nhà tạm giữ CATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; Người LQ;........................................;
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HSST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 120/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn T và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger