Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/7/2024

“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Huệ.

Ông Nguyễn Trần Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lữ Thị Thùy N, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Trần Chí N1, sinh năm 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy N trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lữ Thị Thùy N và ông Trần Chí N1 sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau vào ngày 20 tháng 8 năm 2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 98/2015). Trong cuộc sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không quan tâm chăm sóc con chung. Xét thấy cuộc sống vợ chồng mẫu thuẫn ngày càng gay gắt, bất đồng quan điểm sống ngày càng trầm trọng, nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bà Lữ Thị Thùy N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Chí N1.

Về con chung: Quá trình sống chung giữa bà Lữ Thị Thùy N và ông Trần Chí N1 có 02 người con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Trần Khả H1, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2017. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung, không yêu cầu ông Trần Chí N1 cấp dưỡng nuôi con vì bà có thu nhập ổn định, đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Chí N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trần Chí N1 vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà Lữ Thị Thùy N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lữ Thị Thùy N cho bà Lữ Thị Thùy N được ly hôn với ông Trần Chí N1. Giao hai người con chung tên Trần Gia H và Trần Khả H1 cho bà Lữ Thị Thùy N nuôi dưỡng, ông Trần Chí N1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Lữ Thị Thùy N với ông Trần Chí N1 được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần Chí N1 là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án bà Lữ Thị Thùy N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Trần Chí N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Chí N1 và bà Lữ Thị Thùy N.

[3] Về hôn nhân: Bà Lữ Thị Thùy N với ông Trần Chí N1 sống chung với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau vào ngày 20 tháng 8 năm 2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 98/2015). Do đó, hôn nhân của bà Lữ Thị Thùy N với ông Trần Chí N1 là hợp pháp. Quá trình sống chung bà Lữ Thị Thùy N cho rằng bà và ông Trần Chí N1 có nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Chí N1. Đối với ông Trần Chí N1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Trần Chí N1 vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng và cũng không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của bà Lữ Thị Thùy N.

Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Lữ Thị Thùy N đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với ông Trần Chí N1 một thời gian dài nhưng ông Trần Chí N1 không có ý kiến gì, bà Lữ Thị Thùy N cho rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông Trần Chí N1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông Trần Chí N1 không quan tâm lo lắng gia đình, chăm sóc con chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Điều đó cho thấy, hôn nhân giữa bà Lữ Thị Thùy N với ông Trần Chí N1 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà Lữ Thị Thùy N được ly hôn với ông Trần Chí N1.

[4] Về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình sống chung bà Lữ Thị Thùy N và ông Trần Chí N1 có 02 người con chung tên Trần Khả H1 và Trần Gia H. Bà Lữ Thị Thùy N yêu cầu sau khi ly hôn, bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung tên Trần Gia H và Trần Khả H1, không yêu cầu ông Trần Chí N1 cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án ông Trần Chí N1 không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con của bà Lữ Thị Thùy N. Đồng thời, tại bản tự khai ngày 04 tháng 4 năm 2024, Trần Gia H có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà Lữ Thị Thùy N nếu cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy để không làm xáo trộn đời sống của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của bà Lữ Thị Thùy N giao hai người con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Trần Khả H1, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2017 cho bà Lữ Thị Thùy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lữ Thị Thùy N không yêu cầu ông Trần Chí N1 cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Lữ Thị Thùy N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lữ Thị Thùy N với ông Trần Chí N1.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Trần Khả H1, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2017 cho bà Lữ Thị Thùy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lữ Thị Thùy N không yêu cầu ông Trần Chí N1 cấp dưỡng nuôi con.

  3. Án phí: Buộc bà Lữ Thị Thùy N phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 05 tháng 4 năm 2024, bà Lữ Thị Thùy N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003392 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn B

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn

  • Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger