Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/DS-PT

Ngày 17/6/2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc,

đòi tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt

hại, tranh chấp hợp đồng tín dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng

Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung Bà Mai Vương Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Nguyễn Văn Hưng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2024/DSPT ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, đòi tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại, tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 269/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 160/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 173/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Hứa Thị Thùy T - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Phan Q - sinh năm 1995 - Địa chỉ: E T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền ngày 04/3/2024 của Văn phòng C1). (Có mặt).
  • * Bị đơn: Ông Trần Trung K - sinh năm 1973 - Địa chỉ: Tổ C phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1950 - Địa chỉ: 2 T, tổ A phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. ((Theo Giấy ủy quyền ngày 25/5/2024 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Y). (Có mặt).
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phùng Thế L - sinh năm 1986 - Địa chỉ: Số G đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
    2. Ngân hàng TMCP T2 - Địa chỉ: Tòa nhà T3, số E L, quận H, thành phố Hà Nội.
    3. Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Khắc C, chuyên viên kinh doanh – Trung tâm mua bán Miền trung- T3 (giấy ủy quyền số 708/2022/GUQ-TPB.CMC ngày 28/12/2022). (Vắng mặt).
    4. Bà Phan Thị Ngọc K1 - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
  • - Người kháng cáo: Ông Trần Trung K, là Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:

  • * Trong đơn khởi kiện ghi ngày 18/7/2022 của nguyên đơn là bà Hứa Thị Thùy T và các bản trình bày, tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Phan Quốc thống nhất trình bày:

Ngày 10/01/2022, tại nhà ông Trần Trung K, bà Hứa Thị Thùy T và ông Trần Trung K có ký kết Giấy mua bán xe. Theo đó, ông K đồng ý bán cho bà T 01 xe ô tô Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19, giấy Chứng nhận đăng ký xe số 064781 ngày 22/11/2018. Giá mua bán xe là 400.000.000 đồng; ông K đã nhận đặt cọc trước số tiền 200.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận đến ngày 10/04/2022, hai bên sẽ đến ngân hàng tất toán các khoản nợ và làm thủ tục sang tên đổi chủ chiếc xe ô tô Chevrolet Cruze trên. Đồng thời, bà T phải trả tiền lãi ngân hàng trong tháng 02/2022 và tháng 03/2022. Mỗi tháng trả 2.000.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng, theo đề nghị của ông K nhằm để cấn trừ khoản nợ mà ông K và bà K1 (là vợ ông K) đã mượn của ông Phùng Thế L nên ông K đồng ý cho bà T chuyển số tiền cọc là 200.000.000 đồng cho ông Phùng Thế L nhận, thanh toán 03 lần qua tài khoản ngân hàng của ông Phùng Thế L (mở tại Ngân hàng TMCP N), Cụ thể: Lần 01: Ngày 10/01/2022, thanh toán số tiền: 130.000.000 đồng; Lần 02: Ngày 17/01/2022, thanh toán số tiền: 40.000.000 đồng; Lần 03: Ngày 18/01/2022, thanh toán số tiền: 30.000.000 đồng.

Sau đó bà T có chuyển thêm cho ông K phần tiền lãi Ngân hàng theo yêu cầu của ông K số tiền 14.000.000 đồng để thanh toán tiền lãi, tiền gốc cho Ngân hàng qua tài khoản của ông Trần Trung K (mở tại Ngân hàng N1), cụ thể: ngày 06/4/2022, chuyển số tiền: 6.000.000 đồng; ngày 22/4/2022, chuyển số tiền: 8.000.000 đồng.

Đến ngày 10/4/2022 đến thời hạn thỏa thuận ra Ngân hàng tất toán khoản nợ vay để làm thủ tục sang tên xe cho bà T thì ông K hẹn lại đến tháng 5/2022 mới tất toán Ngân hàng. Hai bên thỏa thuận lại đồng ý đến tháng 6/2022 mới tất toán làm thủ tục sang tên xe. Nhưng đến tháng 6/2022, ông K vẫn không thực hiện thỏa thuận làm thủ tục sang tên đổi chủ. Bà T đã nhiều lần liên hệ, nhắc nhở, tuy nhiên, ông K vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ đến ngân hàng tất toán các khoản nợ vay và làm thủ tục sang tên đổi chủ chiếc xe ô tô Chevrolet Cruze cho bà T.

Ngày 12/7/2022, bà T gửi thông báo yêu cầu ông K phải liên hệ lại cho bà T để phối hợp tất toán khoản nợ vay mua xe ô tô nêu trên tại Ngân hàng và tiến hành thủ tục sang tên xe ô tô nêu trên cho bà T theo thoả thuận tại Giấy mua bán xe. Tuy nhiên, ông K vẫn không thực hiện thỏa thuận hợp đồng đã ký kết.

Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy bỏ thỏa thuận mua bán xe và buộc ông Trần Trung K thanh toán lại tiền bà T đã đặt cọc mua xe là 200.000.000 đồng, phạt cọc 200.000.000 đồng; yêu cầu ông Trần Trung K thanh toán số tiền bà T đã trả nợ lãi Ngân hàng thay cho ông K, số tiền là 14.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông K không có thiện chí để cùng giải quyết vụ việc, do vậy nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thỏa thuận mua bán xe ngày 10/01/2022 giữa ông Trần Trung K và bà Hứa Thị Thùy T là vô hiệu, do xe đang thế chấp trong Ngân hàng mà ông K vẫn giao dịch mua bán và không thực hiện việc tất toán khoản vay Ngân hàng để làm giấy tờ mua bán xe cho xong. Do vậy, hợp đồng mua bán xe không thể thực hiện được nên vô hiệu, các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Bà T trả lại xe ô tô Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19 được Công an thành phố Đ cấp Chứng nhận đăng ký xe số 064781 ngày 22/11/2018 cho ông K. Về số tiền T đã chuyển cho ông L để trả tiền mua xe theo yêu cầu của ông K và bà K1, như vậy thực tế bà T đã chuyển giao đủ số tiền 200.000.000 đồng theo yêu cầu của ông K và được ghi vào giấy mua bán xe: ông K đã nhận đặt cọc 200.000.000 đồng và do vậy ông K mới bàn giao xe cho bà T sử dụng theo thỏa thuận mua bán xe.

Do đó, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán xe vô hiệu, hai bên trả lại cho nhau những gì đã nhận, yêu cầu ông K và bà K1 trả lại cho bà T số tiền mua bán xe đã nhận là 200.000.000 đồng, bà T trả lại cho ông K xe ô tô Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19; Yêu cầu Tòa án buộc ông K trả lại số tiền 14.000.000 đồng đã nhận của bà T để thanh toán lãi từ tháng 2 đến tháng 4/2022.

- Đối với yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K: Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của ông K vì bà T đã chuyển đủ tiền cọc 200.000.000 đồng cho ông Phùng Thế L là người được ông K bà K1 chỉ định nhận tiền và đã thỏa thuận với bà T chuyển tiền cho ông L để cấn trừ nợ, và ông K đồng ý bàn giao xe cho bà T sử dụng. Như vậy, ông K đã nhận đủ tiền cọc 200.000.000 đồng. Việc ông K yêu cầu bồi thường tiền sử dụng xe thì không có căn cứ, giấy mua bán xe đã được hai bên ký kết vào ngày 10/01/2022 và hai bên đã bàn giao sử dụng xe trên cơ sở hợp đồng mua bán xe, kể từ đó bà T có quyền sử dụng xe nên yêu cầu của ông K là không có căn cứ.

* Tại đơn phản tố ghi ngày 18/11/2022 và trong quá trình tố tụng bị đơn ông Trần Trung K trình bày:

Khi mua xe ô tô Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19, ông K có vay của Ngân hàng TMCP T2 số tiền là 512.000.000 đồng. Đến tháng 01/2022 ông có nhu cầu bán lại xe ô tô và ngày 10/01/2022 ông K bán xe ô tô nói trên cho bà Hứa Thị Thùy T (qua sự giới thiệu của anh Phùng Thế L), có ký kết hợp đồng mua bán xe ô tô với nội dung: Giá mua bán xe là 400.000.000 đồng, chị T đặt cọc 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 10/4/2022 thanh toán hết số tiền còn lại và lãi suất Ngân hàng từ 10/01/2022 đến 10/4/2022.

Vì tin tưởng nên ông K đã bàn giao xe cho chị T để đăng kiểm và sử dụng. Nhưng từ 10/01/2022 đến 18/8/2022 chị T vẫn chưa chuyển tiền mua xe cho ông mà chỉ chuyển số tiền 2 lần 14.000.000 đồng vào cuối tháng 4/2022. Ông đã nhiều lần hẹn gặp chị T nhưng chị T không gặp, đến tháng 7/2022 vợ chồng ông yêu cầu chị T làm việc nhưng chị T từ chối hợp tác.

Ông yêu cầu phản tố buộc bà T trả lại xe ô tô nói trên cho ông và phải bồi thường tiền sử dụng xe từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022 (12 tháng) tổng cộng là 28.500.000 đồng x 12 = 336.000.000 đồng; yêu cầu bà T trả tiền phạt vi phạm giao thông từ ngày 10/01/2022 và bồi thường hư hỏng thiết bị trên xe (nếu có).

- Tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 31/5/2023, ông K bổ sung đơn trình bày phần tiền sử dụng xe bà T sử dụng xe từ ngày 10/01/2022 đến ngày 31/5/2023 tổng cộng là 456.000.000 đồng.

- Tại phiên tòa hôm nay, ông K bổ sung yêu cầu bồi thường phần tiền sử dụng xe bà T sử dụng xe từ ngày 10/01/2022 đến ngày xét xử là ngày 29/12/2023 (23 tháng) tổng cộng là 28.500.000 đồng x 23 tháng = 655.500.000 đồng.

Về số tiền bà T đã chuyển vào tài khoản của ông K, ông K đồng ý trả lại cho bà T số tiền đã nhận là 14.000.000 đồng.

* Tại đơn trình bày ý kiến ngày 04/12/2022, đơn yêu cầu độc lập ngày 10/02/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Thế L và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông L thống nhất trình bày:

Thông qua mối quan hệ gia đình, ngày 16/11/2021 ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 mượn của ông Phùng Thế L số tiền 200.000.000 đồng để chuộc xe Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19 ở đường T, không tính lãi. Ông K bà K1 cam kết mượn tiền trong vòng 1 tháng sẽ trả lại, sau khi chuộc được xe về bà Kim giao xe cho ông L cất giữ (ghi vào giấy mượn tiền là có thế chấp xe cho ông L). Đến hết 1 tháng là ngày 16/12/2021 ông K bà K1 vẫn chưa trả được tiền cho ông L nên nhờ ông L tìm người mua xe ô tô là Hứa Thị Thùy T. Ông K và bà T giao dịch mua bán xe giá bán là 400.000.000 đồng, bà T trả trước 200.000.000 đồng, hẹn 2 tháng sau đến tháng 4/2022 sẽ ra Ngân hàng tất toán khoản vay Ngân hàng để lấy giấy tờ xe sang tên cho bà T. Khi làm giấy mua bán xe, ông K bà K1 đồng ý cấn trừ khoản nợ vay mượn của ông L, trả nợ cho ông L bằng cách bà T chuyển tiền qua cho ông L để trừ nợ và coi như ông K bà K1 trả nợ, còn bà T đã giao tiền cọc xe 200.000.000 đồng cho ông K.

Và vì như vậy nên bà T đã chuyển tiền qua tài khoản của ông L 130.000.000 đồng vào lúc 17 giờ ngày 10/01/2022, sau đó bà T có chuyển thêm 2 lần nữa vào ngày 17/01/2022 chuyển 40.000.000 đồng và ngày 18/01/2022 chuyển 30.000.000 đồng. Ông L đã nhận đủ 200.000.000 đồng. Dựa trên số tiền đã nhận chuyển khoản của bà T, vào ngày 13/01/2023 bà K1 yêu cầu ông L ký giấy nhận tiền 130.000.000 đồng.

Việc chị T mua xe của ông K và bà K1 đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng mua xe là ông L đã nhận để cấn trừ nợ theo yêu cầu của ông K bà K1 (cấn trừ khoản nợ ông K bà K1 vay mượn của ông L trước đó). Vì vậy, bà T mua xe đã chuyển số tiền cọc là 200.000.000 đồng.

- Đối với ý kiến của ông K về việc chưa nhận được tiền 200.000.000 đồng thì là do ông K bà Kim c trừ khoản nợ ông K bà K1 vay mượn của ông L. Việc trả nợ của ông K bà K1 cho ông L đã được thực hiện, còn việc giao dịch mua bán xe giữa ông K với bà T thì bà T đã chuyển đủ tiền cọc 200.000.000 đồng cho ông K bà K1. Đến khoảng tháng 4/2022 ông K và chị T có hẹn lại thời gian tất toán Ngân hàng và 2 bên đã đồng ý trao đổi lại thời gian tất toán vào tháng 6/2022. Việc ông K không tất toán Ngân hàng và không thực hiện được giao dịch mua bán xe là do lỗi ông K không tất toán Ngân hàng, giữa bà T và ông K không thực hiện tiếp việc giao số tiền thỏa thuận còn lại để thực hiện thỏa thuận mua bán xe.

Nay tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, và các bên đã nhận tiền trả lại tiền cho bà T thì ông L yêu cầu Tòa án giải quyết bà K1 và ông K là người đã nhận tiền của bà T trả lại cho bà T số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu độc lập về việc yêu cầu bà K1 trả tiền mượn 200.000.000 đồng thì ngày 10/11/2023 ông Phùng Thế L đã có đơn rút nội dung yêu cầu độc lập, không còn có yêu cầu trong vụ án này.

* Tại đơn yêu cầu độc lập, bản tự khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP T2 do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 17/12/2022, Ngân hàng T2 có yêu cầu độc lập đối với bị đơn Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 về việc trả khoản tiền vay theo hợp đồng vay kiêm thế chấp xe ô tô số 1479/2018/HĐTD/TTBMT/01 ngày 27/11/2018. Tổng số tiền nợ hiện còn đến 31/5/2023 là 363.885.393 đồng (bao gồm nợ gốc: 298.666.670 đồng; Nợ lãi: 65.218.723 đồng; và các khoản phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 01/06/2023 đến khi ông K, bà Kim thanh t hết các nghĩa vụ cho T3.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng cung cấp bản tự khai và tính lãi đến ngày xét xử 29/12/2023, yêu cầu ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 về việc trả khoản tiền vay hiện còn nợ đến ngày 29/12/2023 là 397.463.179 đồng (bao gồm nợ gốc: 298.666.670 đồng; Nợ lãi: 98.796.509 đồng) và các khoản phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 30/12/2023 đến khi ông K, bà Kim thanh t hết các nghĩa vụ cho T3.

Trường hợp ông K, bà K1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, T3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, màu xe trắng, số khung RLLJA695EJH950604, số máy F18D4173130288, biển kiểm soát 43A-403.19 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064781 do phòng C2 Công an thành phố Đ cấp ngày 22/11/2018.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phan Thị Ngọc K1 quá trình tố tụng, tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa bà trình bày:

Bà có mượn anh Phùng Thế L số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 16/11/2021 và sau đó có trả tiền cho anh L số tiền 130.000.000 đồng và anh L ký nhận trên giấy, do bà bị mất giấy gốc nên anh L chụp lại và có nộp cho Tòa án thì phần bà đã trả tiền cho anh L đủ. Còn tiền ông Trần Trung K bán xe thì bà T có nghĩa vụ trả hết tiền cho ông K.

* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 269/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 116, 117, 131, 407, 408; các Điều 278, 280, 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hứa Thị Thùy T về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán xe vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và đòi tiền” với bị đơn ông Trần Trung K.

    Tuyên bố Giấy mua bán xe ngày 10/01/2022 được ký kết giữa ông Trần Trung K và bà Hứa Thị Thùy T là vô hiệu.

    Buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải hoàn trả lại cho bà Hứa Thị Thùy T số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng. Bà Hứa Thị Thùy T trả lại cho ông Trần Trung K 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19, giấy Chứng nhận đăng ký xe số 064781 ngày 22/11/2018.

    Buộc ông Trần Trung K phải hoàn trả cho bà Hứa Thị Thùy T số tiền đã nhận qua tài khoản Ngân hàng tổng cộng là 14.000.000 đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Trung K về việc yêu cầu bà Hứa Thị Thùy T bồi thường thiệt hại số tiền sử dụng xe từ ngày 10/01/2022 đến ngày xét xử 29/12/2023 (23 tháng x 28.500.000 đồng/tháng) là 655.500.000 đồng (sáu trăm năm mươi lăm triệu, năm trăm nghìn đồng).
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP T2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Trần Trung K, bà Phan Thị Ngọc K1.

    Buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải trả cho Ngân hàng TMCP T2 tổng số tiền 397.463.179 đồng (bao gồm nợ gốc: 298.666.670 đồng; Nợ lãi: 98.796.509 đồng) tính đến ngày 29/12/2023.

    Kể từ ngày 30/12/2023 ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền dư nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tất cả khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp ông K, bà K1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng TMCP T2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, màu xe trắng, số khung RLLJA695EJH950604, số máy F18D4173130288, biển kiểm soát 43A-403.19 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064781 do phòng C2 Công an thành phố Đ cấp ngày 22/11/2018.

  4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Thế L về việc “Đòi tiền” đối với bà Phan Thị Ngọc K1.
  5. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng. Buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T2 số tiền 2.500.000 đồng mà Ngân hàng T2 đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 10.300.000 đồng đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, giải quyết hợp đồng vô hiệu; Ông Trần Trung K phải chịu 700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu đòi tiền của nguyên đơn.
    • Bà Hứa Thị Thùy T được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.280.000 đồng tại biên lai thu số 0002055 ngày 03/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.
    • Ông Trần Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 30.220.000 đồng đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại không được chấp nhận. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 8.400.000 đồng ông Trần Trung K đã nộp tại biên lai thu số 0002234 ngày 28/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Số tiền án phí ông K còn phải nộp là 21.820.000 đồng.
    • Ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5% x 397.463.179 đồng = 19.873.159 đồng đối với yêu cầu độc lập về tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP T2.
    • Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.421.000 đồng tại biên lai thu số 0000613 ngày 17/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.
    • Hoàn trả cho ông Phùng Thế L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng tại biên lai thu số 0009332 ngày 13/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

  • * Sau khi xét xử sơ thẩm ông Trần Trung K có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 269/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông Trần Trung K đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Hứa Thị Thùy T và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K.
  • * Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hứa Thị Thùy T không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Trung K và tự nguyện hỗ trợ cho ông Trần Trung K số tiền 14.000.000 đồng.
  • * Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Trung K giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Hứa Thị Thùy T và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K; buộc bà Hứa Thị Thùy T bồi thường cho ông Trần Trung K số tiền là 170.000.000 đồng (340 ngày sử dụng xe, mỗi ngày 500.000 đồng).
  • * Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
    • + Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Trung K, Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 269/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo hướng ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ của bà Hứa Thị Thùy T với số tiền 14.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai bà Phan Thị Ngọc K1 và ông Phùng Thế L và Ngân hàng TMCP T2 đến tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng các đương sự trên vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên.

* Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Trung K giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Hứa Thị Thùy T và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K, buộc bà Hứa Thị Thùy T bồi thường cho ông Trần Trung K số tiền là 170.000.000 đồng (340 ngày sử dụng xe, mỗi ngày 500.000 đồng). Xét kháng cáo của ông Trần Trung K thì thấy:

[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hứa Thị Thùy T về việc tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 10/01/2022 vô hiệu:

[2.1] Ngày 17/11/2018 ông Trần Trung K và Ngân hàng TMCP T2 đã ký Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 1479/2018/HĐTD/TTBMT/01. Tại khoản 8.8 Điều 8 bản Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô của Ngân hàng TMCP T2 có thỏa thuận: “Trong thời hạn bảo đảm cho T3, khách hàng (ông K) không được bán tài sản thế chấp là xe ôtô dưới bất cứ hình thức nào nếu không được sự đồng ý bằng văn bản của T3”.

Tuy nhiên, ngày 10/01/2022 ông Trần Trung K (bên bán) và bà Hứa Thị Thùy T (bên mua) có ký kết giấy mua bán xe với nội dung: “Bên bán là ông Trần Trung K bán cho bên mua là Hứa Thị Thùy T 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển số 43A-403.19 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064781 do phòng C2 Công an thành phố Đ cấp ngày 22/11/2018); Giá mua bán là 400.000.000 đồng, nay nhận đặt cọc trước 200.000.000 đồng. Hẹn đến ngày 10/4/2022, ông K và bà T sẽ ra Ngân hàng tất toán các khoản nợ Ngân hàng và làm thủ tục sang tên đổi chủ”.

Như vậy, tại thời điểm ông K và bà T thỏa thuận mua bán thì chiếc xe ô tô đang thế chấp Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của ông K, mặt khác đến thời gian thỏa thuận ông K vẫn không thực hiện được việc tất toán Ngân hàng cho nên đối tượng mua bán không thể thực hiện được. Do vậy, theo quy định tại Điều 408 Bộ luật dân sự thì hợp đồng mua bán xe ngày 10/01/2022 được ký kết giữa ông Trần Trung K và Hứa Thị Thùy T là vô hiệu.

[2.2] Tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 định: “trong trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”.

Tuy nhiên, Hợp đồng mua bángiữa ông Trần Trung K và Hứa Thị Thùy T là chỉ viết tay không được công chứng, chứng thực nên vô hiệu về hình thức hợp đồng.

Do vậy, HĐXX xét thấy Hợp đồng mua bángiữa ông Trần Trung K và Hứa Thị Thùy T không tuân thủ pháp luật cả về hình thức và nội dung, mặt khác tại phiên toà phúc thẩm Người đại diện theo uỷ quyền của ông K cũng thừa nhận hợp đồng mua bán xe ngày 10/01/2022 vô hiệu là đúng pháp luật nên Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố vô hiệu là có căn cứ.

[3] Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng mua bán xe ngày 10/01/2022 giữa ông Trần Trung K và Hứa Thị Thùy T vô hiệu:

Tại phiên toà phúc thẩm ông K cung cấp chứng cứ là 01 USB ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà Phan Thị Ngọc K1 và ông Phùng Thế L cũng như giữa bà Phan Thị Ngọc K1 và bà Hứa Thị Thùy T vào tháng 7/2022 cùng văn bản trình bày nội dung cuộc nói chuyện trên để chứng minh bà K1 đã trả số tiền vay ông L 200.000.000 đồng chứ không liên quan đến việc ông K bán xe cho bà T. Tuy nhiên, cuộc nói chuyện giữa bà K1 với bà T không liên quan đến việc mua bán xe ô tô; còn cuộc nói chuyện giữa bà K1 và ông L thể hiện đến ngày 13/01/2022 bà K1 đã thanh toán cho ông L số tiền 130.000.000 đồng và xác nhận còn nợ số tiền 70.000.000 đồng, nội dung này hoàn toàn phù hợp với giấy nhận tiền mà ông L viết ngày 13/01/2022 bởi lẽ ngày 10/01/2022 bà T mới chuyển cho ông L số tiền 130.000.000 đồng nên ông L viết giấy nhận của bà K1 số tiền 130.000.000 đồng và xác nhận bà K1 còn nợ ông L số tiền 70.000.000 đồng và số tiền này được bà T chuyển cho ông L vào các ngày 17/01/2022 chuyển 40.000.000 đồng và ngày 18/01/2022 chuyển 30.000.000 đồng là hết số nợ 200.000.000 đồng mà bà K1 vay ông L theo giấy mượn tiền ngày 16/11/2021. Do vậy bà K1 cho rằng cá nhân bà đã trả cho ông L số tiền 130.000.000 đồng là không có căn cứ mà HĐXX xác định bà T chuyển số tiền 200.000.000 đồng cho ông L là theo yêu cầu của ông K với mục đích trả nợ ông L số tiền mà bà K1 đã mượn ông L.

Hơn nữa, tại giấy mua bán xe ngày 10/01/2022 do ông Trần Trung K ký kết với bà Hứa Thị Thùy T thể hiện nội dung: “Giá mua bán xe là 400.000.000 đồng, nay tôi nhận đặt cọc trước 200.000.000 đồng”, mặt khác sau khi viết giấy bán xe một thời gian dài nhưng ông K không có yêu cầu bà T trả số tiền 200.000.000 đồng như cam kết chứng tỏ ông K đã nhận số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng của bà T và đồng ý bàn giao xe cho bà T sử dụng nên lời trình bày của ông K là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên, HĐXX xác định ông K đã nhận số tiền 200.000.000 đồng của bà T nhưng yêu cầu bà T chuyển cho ông L số tiền trên để trả nợ số tiền 200.000.000 đồng bà K1 đã vay của ông L theo giấy mượn tiền ngày 16/11/2021.

Ngoài ra các đương sự còn thống nhất vào tháng 4/2022 bà T còn chuyển cho ông K số tiền 14.000.000 đồng, nhưng tại phiên toà phúc thẩm Đại diện theo uỷ quyền của bà T tự nguyện hỗ trợ cho ông K số tiền này, xét thấy ý kiến của Người đại diện theo uỷ quyền của bà T là tự nguyện và không trái pháp luật nên cần ghi nhận và sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không buộc ông K phải trả cho bà T số tiền 14.000.000 đồng.

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy Toà án cấp sơ thẩm buộc ông K và bà K1 phải trả lại cho bà T số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng; bà T trả lại cho ông Trần Trung K 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển số 43A-403.19 là phù hợp với Điều 131 của Bộ luật dân sự.

[4] Đối với yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K về việc buộc bà Hứa Thị Thùy T phải bồi thường số tiền 170.000.000 đồng:

Sau khi ký Giấy bán xe ngày 10/01/2022 thì ông K tự nguyện giao xe cho bà T sử dụng, nên bà T không có lỗi trong việc sử dụng xe, hơn nữa ông K không chứng minh được khoản thu nhập từ việc bà T sử dụng xe mà tự ông K quy định về giá cả và số ngày bà T sử dụng xe để yêu cầu bà T bồi thường là không có căn cứ. Do đó, HĐXX không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K về yêu cầu bà Hứa Thị Thùy T bồi thường với số tiền 170.000.000 đồng.

Nếu sau khi nhận lại xe ông K có yêu cầu bồi thường về chất lượng của xe thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

Từ những nhận định trên, HĐXX thấy không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Trung K nhưng tại phiên toà phúc thẩm có phát sinh tình tiết mới nên cần sửa Bản án sơ thẩm số 269/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng với nội dung ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc hỗ trợ ông K số tiền 14.000.000 đồng và không buộc ông K phải trả bà T số tiền này như lời trình bày của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà.

[5] Về án phí:

[5.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Do chấp nhận yêu cầu của bà Hứa Thị Thùy T nên ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm gồm: án phí đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 300.000 đồng và án phí đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là 200.000.000 đồng x 5% = 10.000.000 đồng.

    Bà Hứa Thị Thùy T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Hứa Thị Thùy T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.280.000 đồng tại biên lai thu số 0002055 ngày 03/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

  • Do không chấp nhận yêu cầu phản tố về bồi thường thiệt hại nên ông Trần Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 170.000.000 đồng x 5% = 8.500.000 đồng.
  • Do chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP T2 về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng nên ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 397.463.179 đồng x 5% = 19.873.159 đồng.

    Ngân hàng TMCP T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.421.000 đồng tại biên lai thu số 0000613 ngày 17/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

    Hoàn trả cho ông Phùng Thế L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng tại biên lai thu số 0009332 ngày 13/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

[5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Trần Trung K phải chịu là 300.000 đồng.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu, nhưng Ngân hàng TMCP T2 đã nộp tạm ứng và chi xong nên buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T2 số tiền 2.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 296 và Điều khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 116, 117, 131, 407, 408; các Điều 278, 280, 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Trung K. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 269/2023/DS-ST ngày 29/123/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hứa Thị Thùy T đối với ông Trần Trung K về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán xe vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và đòi tiền”.

    Tuyên bố Giấy mua bán xe ngày 10/01/2022 được ký kết giữa ông Trần Trung K và bà Hứa Thị Thùy T là vô hiệu.

    Buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải trả lại cho bà Hứa Thị Thùy T số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Bà Hứa Thị Thùy T trả lại cho ông Trần Trung K 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze, biển số đăng ký 43A-403.19, giấy Chứng nhận đăng ký xe số 064781 ngày 22/11/2018.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung K về việc buộc bà Hứa Thị Thùy T phải bồi thường thiệt hại với số tiền 170.000.000 đồng. (340 ngày sử dụng xe, mỗi ngày 500.000 đồng).
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP T2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1.

    Buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải trả cho Ngân hàng TMCP T2 tổng số tiền 397.463.179 đồng (bao gồm nợ gốc: 298.666.670 đồng; Nợ lãi: 98.796.509 đồng) tính đến ngày 29/12/2023.

    Kể từ ngày 30/12/2023 ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền dư nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tất cả khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp ông K, bà K1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng TMCP T2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, màu xe trắng, số khung RLLJA695EJH950604, số máy F18D4173130288, biển kiểm soát 43A-403.19 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064781 do phòng C2 Công an thành phố Đ cấp ngày 22/11/2018.

  4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Thế L về việc “Đòi tiền” đối với bà Phan Thị Ngọc K1.
  5. Về án phí:
    • - Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 300.000 đồng và đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là 10.000.000 đồng.

        Bà Hứa Thị Thùy T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Hứa Thị Thùy T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.280.000 đồng tại biên lai thu số 0002055 ngày 03/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

      • Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Trung K phải chịu đối với yêu cầu phản tố về bồi thường thiệt hại là 8.500.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 8.400.000 đồng ông K đã nộp tại biên lai thu số 0002234 ngày 28/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông Trần Trung K còn phải nộp tiếp số tiền là 100.000 đồng.
      • Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là 19.873.159 đồng.

        Ngân hàng TMCP T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.421.000 đồng tại biên lai thu số 0000613 ngày 17/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

    • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Trung K phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông K đã nộp tại biên lai thu số 0000614 ngày 17/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
  6. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 phải chịu. Nhưng Ngân hàng TMCP T2 đã nộp tạm ứng và chi xong nên buộc ông Trần Trung K và bà Phan Thị Ngọc K1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T2 số tiền 2.500.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ -
  • Văn phòng (1b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/DS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, đòi tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại, tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 120/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, đòi tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại, tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hứa Thị Thùy T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger