Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HSST

Ngày 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Mai Thị Duyên
  • Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đức T, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1980 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá N và bà Vũ Thị Đ (đã chết); vợ là Lê Thị D; có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2024; có mặt.

- Bị hại: Cháu Nguyễn Thùy L, sinh năm 2007; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Vũ Thị H là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Thùy L; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Người làm chứng: Cháu Phùng Nguyễn Tuyết N1, sinh năm 2007; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng: Anh Phùng Duy K; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn V1; địa chỉ trụ sở: Số D đường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h00', ngày 08/9/2023, Lê Đức T (có giấy phép lái xe hạng FC) điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 15C - 094.62 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 xuất phát từ Bãi ICD N, thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để đi đến huyện K, tỉnh Ninh Bình lấy hàng. Sau khi rời khỏi Bãi ICD N, Lê Đức T điều khiển xe ô tô đi từ đường Đ chuyển hướng vào đường B, di chuyển vào làn đường hỗn hợp dành cho ô tô, xe máy (làn đường trong cùng sát vỉa hè) theo hướng từ ngã 3 đường B - đường L phường về vòng xuyến ngã 6 L - B - Ngô Gia T1 và di chuyển trên làn đường này. Khi cách ngã tư giao với đường N khoảng 600m thuộc vị trí KM19+700 của đường B, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng (là đoạn đường cấm dừng và đỗ xe), Lê Đức T đỗ xe sát vỉa hè, tắt máy, khóa cửa xe, bật đèn báo hiệu chuyển hướng bên phải nhưng không đặt vật cảnh báo báo hiệu ở phía trước và sau xe rồi vào ăn sáng tại một quán gần đó.

Đến khoảng 06h30' cùng ngày, cháu Nguyễn Thùy L; sinh ngày 22/12/2007 (15 tuổi 8 tháng 16 ngày); nơi cư trú: TDP H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng điều khiển xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 chở cháu Phùng Nguyễn Tuyết N1; sinh năm 2007; nơi cư trú: Số B đường N, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng ngồi sau di chuyển trên làn đường hỗn hợp dành cho ô tô, xe máy của đường B theo hướng từ ngã 3 đường B - đường L phường về vòng xuyến Lê Hồng P - B - Ngô Gia T1. Khi đến đoạn đường KM19+700 của đường B, Nguyễn Thùy L vừa điều khiển xe vừa sử dụng điện thoại di động, thiếu chú ý quan sát nên đã đâm vào phía sau bên trái của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42; Nguyễn Thùy LPhùng Nguyễn Tuyết N1 đều bị ngã ra đường. Hậu quả, Nguyễn Thùy L bị thương tích, sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 và xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện: Đường B rộng 40m được rải nhựa nhẫn, có dải phân cách cố định giữa chia hai chiều xe chạy; trên mỗi phần đường có vạch sơn kẻ đường và biển báo phân làn xe. Phần đường sát vỉa hè bên phải hướng ngã 3 B – Liên phường đi vòng xuyến B - Lê Hồng P rộng 5,8m, có vạch sơn kẻ đường liền màu trắng chia hai làn xe: làn đường sát dải phân cách cố định dành cho xe ô tô, làn đường sát vỉa hè dành cho xe thô sơ. Xe ô tô BKS 15C - 094.62 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 đỗ sát mép đường đầu xe quay hướng vòng xuyến B - Lê Hồng P, đuôi xe quay hướng ngã 3 B - Liên phường; tâm trục bánh trước bên phải đầu kéo cách 0,2m, tâm trục bánh sau bên phải đầu kéo cách 0,25m so với mép đường; tâm trục bánh trước bên phải sơ mi rơ mooc cách 0,28m, tâm trục bánh sau bên phải cách 0,29m so với mép đường. Xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 dựng, đầu xe quay hướng vòng xuyến B - Lê Hồng P, đuôi xe quay hướng ngã 3 B - Liên phường; tâm trục bánh trước cách 2,8m, tâm trục bánh sau cách 2,97m so với mép dải phân cách; tâm trục bánh trước vuông góc với tâm trục bánh sau bên trái sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42. Vết máu không rõ hình, kích thước 0,7mx0,2m tâm vết cách dải phân cách cố định là 1,6m và cách tâm trục bánh trước xe máy điện là 1,0m. Cạnh ngã 3 B – Liên phường, trên vỉa hè đường B, bên phải, hướng ngã 3 B – Liên phường đi vòng xuyến Bùi V - Lê Hồng P có cắm biển báo hiệu P.130 “Cấm dừng xe và đỗ xe” (trước vị trí Lê Đức T đỗ xe 140m tại KM19+840).

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 xe ô tô đầu kéo BKS 15C - 094.62 kéo rơ moóc BKS 15R - 032.42 thể hiện có dấu vết cong vênh kim loại, bề mặt mài trượt bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ mặt lăn vào tâm tại mặt bên phải vành bánh xe phía trước trên xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 và dấu vết mài trượt mất cao su màu đen theo chiều từ mặt lăn vào tâm tại mặt ngoài má bên trái lốp bánh xe ngoài cùng bên trái (bên lái) hàng bánh sau cùng trên sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42.

Tại Bản kết luận giám định số 207/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H về dấu vết va chạm của các phương tiện kết luận: Dấu vết mài trượt mất cao su màu đen theo chiều từ mặt lăn vào tâm tại mặt ngoài má bên trái lốp bánh xe ngoài cùng bên trái (bên lái) hàng bánh sau cùng trên sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 kéo sau ô tô đầu kéo BKS 15C - 094.62 phù hợp với dấu vết cong vênh kim loại, bề mặt mài trượt bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ mặt lăn vào tâm tại mặt bên phải vành bánh xe phía trước trên xe máy điện mang BKS 15MĐ7 - 011.63. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện va chạm cùng chiều với nhau. Đặc điểm cơ học của các dấu vết còn lại trên xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 và xe ô tô đầu kéo BKS 15C - 094.62 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 hiện tại không thể hiện rõ nên không đủ yếu tố giám định. Không đủ cơ sở xác định xe máy điện mang BKS 15MĐ7 - 011.63 đâm vào xe ô tô đầu kéo BKS 15C - 094.62 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 và ngược lại.

Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 66/2024/KLTgTHS- TTPYHP ngày 18/01/2024 của Trung tâm P2, kết luận đối với thương tích của Nguyễn Thùy L: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ % tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể qua hồ sơ là 71%, trong đó:

  • + Tỷ lệ % tổn thương cơ thể do giảm tốc độ dẫn truyền dây thần kinh mặt gây nên là 07%)
  • + Nạn nhân có há miệng hạn chế do đau, khớp cắn đúng, chụp CT sọ não không thấy tổn thương xương khớp thái dương hàm nên không đánh giá tỷ lệ % tổn thương cơ thể.
  • + Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 707/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 09/10/2023 của Trung tâm P2 kết luận tỷ lệ % tổn thương cơ thể của nạn nhân là: 69%.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 708/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 09/10/2023 của Trung tâm P2 kết luận đối với thương tích của Phùng Nguyễn Tuyết N1: Tại thời điểm giám định không có dấu vết thương tích trên cơ thể, không tổn thương sọ não, không gãy xương quanh vai phải, không gãy xương đòn phải nên không đánh giá tỷ lệ % tổn thương cơ thể.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: 01 sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42, nhãn hiệu KCT, đã qua sử dụng giá trị thiệt hại tại thời điểm tháng 9/2023 là 1.200.000 đồng; 01 xe máy điện, số loại GOGONEW, màu đen ghi, BKS 15MĐ7 - 011.63, đã qua sử dụng giá trị thiệt hại tại thời điểm tháng 9/2023 là 2.016.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Thu giữ 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Lê Đức T.

- Đối với xe máy điện BKS: 15MĐ7 - 011.63, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 004920 mang tên Nguyễn Thùy L, ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã trả lại cho cháu Nguyễn Thùy L dưới sự giám hộ của bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của Nguyễn Thùy L.

- Đối với 01 xe ô tô đầu kéo mang BKS 15C - 094.62, 01 rơ moóc mang BKS 15R - 032.42, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000543 mang tên Công ty TNHH V1, 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 002420 mang tên Công ty TNHH V1, 02 Giấy chứng nhận kiểm định số EA 2205107 phương tiện 15C-094.62 và EA 1813335 phương tiện BKS 15R - 032.42 ngày 23/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH V1.

- Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH V1 không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42. Cháu Phùng Nguyễn Tuyết N1 không yêu cầu Lê Đức T; đối với cháu Nguyễn Thùy L bị cáo Lê Đức T đã tự nguyện bồi thường 50.000.000 đồng tiền thuốc men, khám điều trị thương tích, sửa chữa xe máy điện BKS: 15MĐ7 - 011.63, cháu Nguyễn Thùy L và bà Vũ Thị H - người giám hộ không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhệm hình sự.

Tại Cáo trạng số 123/CT- VKS ngày 23/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố: Do không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, đỗ xe tại đoạn đường cấm dừng, đỗ xe không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết dẫn đến cháu Nguyễn Thùy L điều khiển xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 phía sau chở cháu P1 Nguyễn Tuyết N1 đâm vào phía sau bên trái của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42. Hậu quả cháu Nguyễn Thùy L với tỷ lệ tổn thương % cơ thể là 71%, sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 và xe máy điện BKS: 15MĐ7 - 011.63 bị hư hỏng, tổng thiệt hại về tài sản là 3.216.000 đồng.

Bị hại; người đại diện hợp pháp của người bị hại đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt, đã được công bố lời khai của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận, bị cáo đã tự nguyện bồi thường 50.000.000 đồng cho cháu Nguyễn Thùy L và bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của cháu L không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; cháu Phùng Nguyễn Tuyết N1 và đại diện hợp pháp không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Đức T từ 15 tháng Cải tạo không giam giữ đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Về việc khấu trừ thu nhập: Áp dụng khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung “Cấm hành nghề” đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lê Đức T 01 Giấy phép lái xe hạng hạng FC, số [...] mang tên Lê Đức T; về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH V1 không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42; cháu Nguyễn Tuyết N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường; đối với cháu Nguyễn Thùy L bị cáo đã tự nguyện bồi thường 50.000.000 đồngcho cháu Nguyễn Thùy L và bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của cháu L không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

+ Về sự vắng mặt của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người làm chứng; người đại diện hợp pháp của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại nhưng vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt; người làm chứng; người đại diện hợp pháp của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại; người đại diện hợp pháp của người bị hại; người làm chứng; người đại diện hợp pháp của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận giám định, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/9/2023 tại đoạn đường KM19+700 của đường B thuộc phường N, quận H, thành phố Hải Phòng, Lê Đức T điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 15C - 094.62 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, đỗ xe không đảm bảo an toàn tại đoạn đường cấm dừng, đỗ xe không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết dẫn đến cháu Nguyễn Thùy L điều khiển xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 phía sau chở cháu P1 Nguyễn Tuyết N1 đâm vào phía sau bên trái của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42. Hậu quả cháu Nguyễn Thùy L với tỷ lệ tổn thương % cơ thể là 71%; sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42 và xe máy điện BKS: 15MĐ7 - 011.63 bị hư hỏng, tổng thiệt hại về tài sản là 3.216.000 đồng. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét lỗi chủ yếu do bị hại, khi tham gia giao thông điều khiển phương tiện xe máy điện khi chưa đủ tuổi, thiếu chú ý quan sát, sử dụng điện thoại di động khi tham gia giao thông.

[4] Hành vi của bị cáo là lỗi do vô ý cầu thả đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ” và điểm d khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ: “Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết”. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[5] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo Lê Đức T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại đến sức khỏe và tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Bị cáo Lê Đức T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Tuy nhiên, khi ấn định hình phạt cũng cần xem xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tự nguyện bồi thường đầy đủ cho bị hại; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Lê Bá N là thương binh hạng 3/4. Mặt khác, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, nên bị cáo được áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng. Đến nay hành vi phạm tội của bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cách ly đối với bị cáo mà cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về việc khấu trừ thu nhập:

[10] Bị cáo Lê Đức T phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập.

- Về hình phạt bổ sung:

[11] Ngoài hình phạt chính bị cáo Lê Đức T còn có thể bị cấm hành nghề. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét: Việc bị cáo là lái xe là công việc kiếm sống và là lao động chính trong gia đình, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

[12] Công ty TNHH V1 không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42; cháu Nguyễn Tuyết N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường; đối với cháu Nguyễn Thùy L bị cáo đã tự nguyện bồi thường 50.000.000 đồngcho cháu Nguyễn Thùy L và bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của cháu L không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về việc xử lý vật chứng:

[13] Đối với xe máy điện BKS: 15MĐ7 - 011.63, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 004920 mang tên Nguyễn Thùy L.Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã trả lại cho cháu Nguyễn Thùy L có sự giám hộ của bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của Nguyễn Thùy L, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[14] Đối với 01 xe ô tô đầu kéo mang BKS 15C - 094.62, 01 rơ moóc mang BKS 15R - 032.42, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000543 mang tên Công ty TNHH V1, 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 002420 mang tên Công ty TNHH V1, 02 Giấy chứng nhận kiểm định số EA 2205107 phương tiện 15C-094.62 và EA 1813335 phương tiện BKS 15R - 032.42 ngày 23/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH V1, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[15] Công ty TNHH V1 không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của sơ mi rơ moóc BKS 15R - 032.42, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[16] Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả ngay tại phiên tòa cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Lê Đức T.

[17] Đối với cháu Nguyễn Thùy L có hành vi điều khiển xe máy điện khi chưa đủ tuổi, sử dụng điện thoại di động khi điều khiển xe máy điện, thiếu chú ý quan sát không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có chướng ngại vật trên đường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H chuyển hồ sơ cho Phòng C Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính.

[18] Đối với cháu Nguyễn Thùy L điều khiển xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 khi chưa đủ tuổi, xác định chiếc xe trên là của bà Vũ Thị H (mẹ đẻ cháu L) mua tặng cho L nhưng chưa giao cho L sử dụng. Ngày 08/9/2023 Nguyễn Thùy L tự ý lấy xe máy điện BKS 15MĐ7 - 011.63 đi bà H không biết nên không có căn cứ xử lý đối với bà Vũ Thị H về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

- Về án phí:

[19] Bị cáo Lê Đức T phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[20] Bị cáo Lê Đức T; bị hại; người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 36; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Đức T tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục, tạo điều kiện tìm việc làm cho bị cáo theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo Lê Đức T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Đức T kể từ ngày tuyên án.

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả ngay tại phiên tòa cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Lê Đức T.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Lê Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công ty Trách nhiệm Hữu hạn V1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án đựợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS- Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 120/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức T VPQĐVTGGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger