Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 120/2024/DS-PT

Ngày: 20/6/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình

Các Thẩm phán:

Bà Lê Hồng Hạnh

Bà Đinh Thị Quý Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2024/TLPT-DS ngày 14/3/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 83/2024/QĐXXPT-DS ngày 6 tháng 5 năm 2024, giữa:

* Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Mai D, sinh năm 1970, (có mặt)

Địa chỉ: Tổ D, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm B, sinh năm 1988, (có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước

* Bị đơn: Bà Bùi Thị Ngọc B1, sinh năm 1983 và ông Lê Thanh T, sinh năm 1973, (có mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ E, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lưu Thị Hồng T1, sinh năm 1992, (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

  3. Ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1969, (có mặt)
  4. Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

  5. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước
  6. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Xuân T2 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng H – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin vắng mặt)

    Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

  7. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
  8. Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn H1 – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Quốc lộ A, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

*Người kháng cáo: Bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Lưu Thị Mai D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm B thống nhất trình bày:

Vào năm 2005 mẹ bà Lưu Thị Mai D là bà Cao Thị C có tặng cho bà Lưu Thị Mai D 01 thửa đất diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 547m², thuộc thửa đất số 366, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước, do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 25/4/2005 cho bà Lưu Thị Mai D. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Lưu Thị Mai D quản lý, khai thác sử dụng đất cho đến nay, đất không có ai tranh chấp chấp, phần ranh đất và mốc giới thửa đất được xác định rõ ràng. Tuy nhiên đến năm 2019 khi cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến ngân hàng để làm thủ tục vay vốn thì bà D mới phát hiện một phần diện tích khoảng 200m² ở phía sau thửa đất của bà D bị cấp nhầm sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số: 920, tờ bản đồ số 32, diện tích 372,7m² tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH03389; Do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/6/2013 cho bà Lưu Thị Hồng T1. Ngày 04/01/2019 bà Lưu Thị Hồng T1 đã chuyển nhượng cho bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Lê Thanh T. Sau khi phát hiện đất bị cấp nhầm bà D đã gặp bà B1, ông T để thương lượng để yêu cầu ông T bà B1 trả lại diện tích đất trên nhưng bà B1, ông T không đồng ý. Bà Lưu Thị Mai D đã làm đơn kiến nghị hòa giải tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước nhưng không hòa giải không thành. Vì vậy bà Lưu Thị Mai D khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Lê Thanh T trả lại diện tích đất 65,4m² theo sơ đồ mảnh trích đo địa chính ngày 04/01/2023 trong tổng diện tích đất 11.968m², thuộc thửa đất số 929 và 366, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 thống nhất trình bày:

Năm 2019 ông Lê Thanh T và Bùi Thị Ngọc B1 có nhận chuyển thửa đất số: 920, tờ bản đồ số 32, diện tích 372,7m² tọa lạc tại khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước từ bà Lưu Thị Hồng T1, địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước với giá chuyển nhượng theo hợp đồng chuyển nhượng là 30.000.000 đồng nhưng thực tế giá chuyển nhượng là 900.000.000 đồng. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH03389; Do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/6/2013 cho bà Lưu Thị Hồng T1. Khi bà Bùi Thị Ngọc B1 nhận chuyển nhượng từ bà Lưu Thị Hồng T1 thì hiện trạng thửa đất có ranh giới rõ ràng, được làm nọc tiên lưới B40, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 và 01 cây dừa và 03 cây mít, ở phần phía sau cuối thửa đất sát hàng rào có trồng bụi tre và đường đất. Trước khi nhận chuyển nhượng thửa đất bà B1 và ông T. đã đến kiểm tra và xác định ranh giới mới ký hợp đồng nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị Hồng T1. Phía bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Lê Thanh T căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số: 920, tờ bản đồ số 32, diện tích 372,7m² nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị Hồng T1 nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn bà Lưu Thị Mai D đối với yêu cầu buộc phía bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Lê Thanh T trả lại diện tích đất 65,4m² theo sơ đồ mảnh trích đo địa chính ngày 04/01/2023 trong tổng diện tích đất 11.968m², thuộc thửa đất số 929 và 366, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị Hồng T1 trình bày:

Năm 2013 Lưu Thị Hồng T1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 920, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của bà nội là bà T1 là bà Cao Thị C. Do mọi thủ tục giấy tờ bà Cao Thị C thực hiện bà T1 không biết ranh giới đất cụ thể chỉ căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp để quản lý và sử dụng và chuyển nhượng. Năm 2019 bà Lưu Thị Hồng T1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số: 920, tờ bản đồ số 32, diện tích 372,7m² tọa lạc tại khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận được cấp cho bà Bùi Thị Ngọc B1 theo đúng diện tích được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với mốc giới xác định ranh của hai thửa đất là cọc gỗ được được cắm vào năm 2019 khi chồng bà D là ông Nguyễn Minh S tự xác định và cắm cột gỗ để xác định kéo dài đường thẳng từ cột ra đến cây lồng mực cuối đất để xác định ranh giới 02 thửa đất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh S trình bày:

Ông Nguyễn Minh S kết hôn với bà Lưu Thị Mai Danh t năm 1996 khi ông S về chung sống với bà Lưu Thị Mai D thì ranh giới của hai thửa đất số 366, tờ bản đồ số 32 và thửa đất số 920, tờ bản đồ số 32, cùng tọa lạc tại khu E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước đã được xác định cụ thể băng cọc gỗ (nọc tiêu). Nguồn gốc của 02 thửa đất trên trước đây là của bà Cao Thị C là do mẹ vợ ông S khai phá và sử dụng. Năm 1992 bà Cao Thị C đã tặng cho toàn bộ đất số 366, tờ bản đồ số 32 cho vợ ông S là bà Lưu Thị Mai D và đến năm 2013 bà Cao Thị C chuyển nhượng thửa đất số 920, tờ bản đồ số 32 cho cháu là bà Lưu Thị Hồng T1. Từ năm 1992 đến nay ranh giới hai đất hai bên được thể hiện bằng mốc cột gỗ (nọc tiêu) phía mép đường phía trước kéo dài đến cây lồng mức phía đằng sau đuôi đất là một đường thẳng không xê dịch. Năm 1992 bà Lưu Thị Mai D đã xây dựng nhà cách hàng rào là 0,6m, năm 1996 khi ông S về chung sống với bà D thì có cơi nới xây dựng nhà bếp phía đằng sau đuôi đất vào năm 2009. Ông Nguyễn Minh S thống nhất theo ý kiến trình bày của vợ ông S là nguyên đơn bà Lưu Thị Mai D về ranh giới, mốc giới của hai thửa đất và yêu cầu khởi kiện của bà D về việc yêu cầu bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Lê Thanh T trả lại diện tích đất 65,4m² theo hiện trạng sử dụng đất thực tế được thể hiện trên sơ đồ mảnh trích đo địa chính ngày 04/01/2023 trong tổng diện tích đất 11.968m², thuộc thửa đất số 920 và 366, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Ý kiến của của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước:

Bản đồ địa chính thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước được thành lập năm 1999 theo hệ độ độc lập. Cơ quan nhà nước dựa trên bản đồ địa chính này để thực hiện cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H-03322 và H-03323 do Ủy ban nhân dân huyện B (cũ) cấp cho bà Lưu Thị Mai D ngày 25/4/2005 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03389 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Lưu Thị Hồng T1 ngày 19/6/2013 được cấp đúng trình tự thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua ra soát hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03389 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Lưu Thị Hồng T1 ngày 19/6/2013 cho thấy nguyên nhân biến động diện tích đất từ 167m² tăng lên 372m² là theo hiện trạng thực tế sử dụng đất của bà Cao Thị C (căn cứ kết quả đo thực tế thửa đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nay là chi nhánh V đăng ký đất đai) huyện H đo đạc ngày 10/12/2012 thì diện tích thực tế tăng lên 105,7m² so với diện tích đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Ranh giới sử dụng ổn định không tranh chấp. Đối với việc xác định được các đương sự có sử dụng đúng ranh giới, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử đất được cấp thì có thực hiện được việc thể hiện ranh được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên trên bản trích đo địa chính, bản đo vẽ hiện trạng thuộc chức năng nhiệm vụ của văn phòng đăng ký đất đai. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản căn cứ vào hồ sơ tài liệu chứng cứ trong quá trình thu thập để giải quyết theo quy định pháp luật.

- Ý kiến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B:

Tòa án đã có công văn hỏi ý kiến và triệu tập hợp lệ nhưng Sở T vắng mặt và không có ý kiên tuy nhiên tại công văn số 1899/STMT-VPĐKĐĐ về việc phúc đáp công văn số 97/2023/CV-TA của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đã xác định như sau: Việc xác định ranh đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn có cơ sở để thực hiện. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp chồng bản đồ cũ lên bản đồ mới thì có chênh lệch vị trí, do trước đây công tác đo đạc được thực hiện theo hệ tọa độ độc lập (giả định). Còn hiện nay, các phương pháp đo đạc để thành lập bản đồ địa chính, bản trích đo địa chính và đo đạc xác định ranh giới thửa đất đều sử dụng hệ tọa độ VN-2000. Do đó việc xác định ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mang tính tham khảo chứ không chính xác và không đủ cơ sở pháp lý. Đối với việc thể hiện ranh được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên bản trích đo địa chính, bản vẽ hiện trạng thì có thể thể hiện ranh giới được cấp theo giấy chứng nhận cũ lên bản trích đo địa chính, bản vẽ hiện hiện trạng. Tuy nhiên, việc thể hiện chỉ mang tính chất tham khảo chứ không chính xác và đủ cơ sở pháp lý, do trước đây công tác đo đạc được thực hiện theo hệ tọa độ độc lập (giả định), còn hiện nay, các phương pháp đo đạc để thành lập bản đồ địa chính và đo đạc xác định ranh giới đất đều sử dụng hệ tọa độ VN-2000. Việc xác định ranh giới và diện tích theo giấy chứng nhận đã cấp do các đơn vị có chức năng hành nghề đo đạc bản đồ địa chính, bộ phận đo đạc trực thuộc chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yều khởi kiện nguyên đơn bà Lưu Thị Mai D về việc buộc bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 trả lại diện tích đất 65,4m² (có kích thước cụ thể như sau: Cạnh chiều rộng tiếp giáp phía đuôi nhà là 1.6m, cạnh chiều rộng phía sau đuôi đất là 5,79m và 01 cạnh chiều dài giáp thửa đất bà B1 là 21,31m và 01 cạnh chiều dài giáp thửa đất bà D là 2,96m + 16,94m), theo ranh hiện trạng thực tế sử dụng của sơ đồ mảnh trích đo địa chính ngày 04/01/2023 do Công ty TNHH -.
  2. Có tứ cận như sau:

    • - Cạnh vị trí hướng Bắc giáp thửa đất số 920, có số đo 21,31m
    • - Cạnh vị trí hướng Nam giáp thửa đất số 366, có số đo 2,96m + 16,94m
    • - Cạnh vị trí hướng tây giáp thửa đất 920 và 366, có số đo 1,6m
    • - Cạnh vị trí hướng Đông giáp thửa đất ông Nguyễn Văn L, có số đo 5,79m.

    (Kèm theo mảnh trích đo địa chính)

  3. Nguyên đơn, bị đơn có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện đăng ký biến động cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013.
  4. Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền đăng ký biến động để điều chỉnh và cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lưu Thị Mai D và bà Bùi Thị Ngọc B1 đúng theo hiện trạng sử dụng đất thực tế được quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/10/2023 bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lưu Thị Mai D.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn, bị đơn thống nhất thỏa thuận về việc giải quyết vụ án như sau:

  • - Bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 đồng ý trả lại cho bà Lưu Thị Mai D phần đất có diện tích 65,4m² theo bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước (Kèm theo mảnh trích đo địa chính).
  • - Về chi phí tố tụng cấp sơ thẩm : Bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 đồng ý trả lại cho bà Lưu Thị Mai D chi phí tố tụng cấp sơ thẩm là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  • - Bà Lưu Thị Mai D đồng ý về việc bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 trả lại phần đất có diện tích 65,4m² theo bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và số tiền chi phí tố tụng cấp sơ thẩm là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Xét thấy, việc thoả thuận này của đương sự như trên là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được công nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

  • - Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy các đương sự đã thống nhất với nhau giải quyết vụ kiện. Việc thoả thuận này của các bên như trên là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được công nhận. Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của BLTTDS; Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Sửa bán án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản về phần chi phí tố tụng sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của BLTTDS, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện:
    • - Bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 đồng ý trả lại cho bà Lưu Thị Mai D phần đất có diện tích 65,4m² theo bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước (Kèm theo mảnh trích đo địa chính).
    • - Về chi phí tố tụng cấp sơ thẩm bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 đồng ý trả lại cho bà Lưu Thị Mai D chi phí tố tụng cấp sơ thẩm là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
    • - Bà Lưu Thị Mai D đồng ý về việc bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 trả lại phần đất có diện tích 65,4m² theo bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
    • - Về chi phí tố tụng cấp sơ thẩm là 30.000.000 đồng, bà D đồng ý về việc bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 trả lại số tiền là 15.000.000 đồng và bà D chịu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

    Xét thấy, việc thoả thuận này của các đương sự như trên là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử công nhận, sự thỏa thuận này cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản về phần chi phí tố tụng sơ thẩm như các bên đương sự đã thỏa thuận.

  3. [3] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
  4. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên các bên không phải chịu.
  5. [5] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Sửa bán án sơ thẩm số bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
  2. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 71, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 265, Điều 266 Bộ luật dân sự 2005; Căn cứ các Điều 175, Điều 176; khoản 1 Điều 579 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Khoản 1 Điều 26, khoản 4 Điều 95, khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  3. Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  4. Bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 có trách nhiệm trả lại diện tích đất 65,4m² cho bà Lưu Thị Mai D (có kích thước cụ thể như sau: Cạnh chiều rộng tiếp giáp phía đuôi nhà là 1.6m, cạnh chiều rộng phía sau đuôi đất là 5,79m và 01 cạnh chiều dài giáp thửa đất bà B1 là 21,31m và 01 cạnh chiều dài giáp thửa đất bà D là 2,96m + 16,94m), theo ranh hiện trạng thực tế sử dụng của sơ đồ mảnh trích đo địa chính ngày 04/01/2023 do Công ty TNHH -, tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Có tứ cận như sau:

    • - Cạnh vị trí hướng bắc giáp thửa đất số 920, có số đo 21,31m
    • - Cạnh vị trí hướng nam giáp thửa đất số 366, có số đo 2,96m + 16,94m
    • - Cạnh vị trí hướng tây giáp thửa đất 920 và 366, có số đo 1,6m
    • - Cạnh vị trí hướng đông giáp thửa đất ông Nguyễn Văn L, có số đo 5,79m.

    (Kèm theo mảnh trích đo địa chính)

  5. Nguyên đơn, bị đơn có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện đăng ký biến động cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013.
  6. Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền đăng ký biến động để điều chỉnh và cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lưu Thị Mai D và bà Bùi Thị Ngọc B1, ông Nguyễn Thanh T3 đúng theo hiện trạng sử dụng đất thực tế được quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013.
  7. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nguyên đơn bà Lưu Thị Mai D đã nộp tạm ứng 30.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) trong đó 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá và 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) tiền trích đo địa chính. Bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Nguyễn Thanh T3 trả lại cho bà Lưu Thị Mai D chi phí tố tụng cấp sơ thẩm là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), bà Lưu Thị Mai D chịu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) được trừ vào số tiền bà D đã nộp trước.
  8. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 và ông Lê Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Lưu Thị M Danh số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013763 ngày 01 tháng 3 năm 2022.
  9. Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên các bên không phải chịu. Hoàn trả cho bị đơn bà Bùi Thị Ngọc B1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015034 ngày 25 tháng 10 năm 2023.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - TAND huyện Hớn Quản;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/DS-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 120/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Sửa bán án sơ thẩm số bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger