|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 19-6-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn L, sinh năm 1998.
Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lê Văn D, sinh năm 1979 và bà Bàn Thị H, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 118 ngày 12/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 21/02/2024.
Tiền sự: Ngày 09/01/2023 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng nhưng chưa thi hành.
Nhân thân: Ngày 12/8/2020 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 25/12/2021.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1998 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà A, phố C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hà Thị T, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà A, phố C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Nguyễn Thị Mai A, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà I, ngõ A, S, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Danh T2, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Nguyễn Danh Đ, sinh năm 1962 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà I, ngõ A, S, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/02/2024, Lê Văn L, sinh năm 1998, trú tại thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi xe khách đến bến xe N, thành phố Hà Nội và lang thang ở đó.
Khoảng 8 giờ sáng ngày 28/02/2024, L đi xe khách đi từ thành phố Hà Nội đến bến xe khách B sau đó đi xe khách từ Bắc Giang về nhà. Khoảng 11 giờ cùng ngày khi đi đến đoạn phố C, xã D, thành phố B, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên xuống xe và đi bộ dọc đường xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. L đi vào cửa hàng mua bán điện thoại di động của gia đình anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1998 ở số nhà A, phố C, xã D, thành phố B thì gặp chị Hà Thị T, sinh năm 1999 (là vợ anh K) đang nằm trên ghế sofa, trên mặt bàn cạnh tủ quầy có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, bản 64GB, bên trong gắn sim số 0837.911.998 của anh K để ở đó từ trước. L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Chị T thấy L đi vào nên ngồi dậy hỏi thì L nói với chị T là muốn mua tai nghe. Lợi dụng lúc chị T đang đứng quay mặt vào phía trong nhà, L lấy chiếc điện thoại di động của anh K để trên mặt bàn cạnh tủ quầy rồi đút vào túi quần phía sau bên trái đang mặc. Chị T đi ra tủ quầy để phụ kiện để lấy tai nghe cho L xem thì L không nói gì và đi khỏi cửa hàng. Chị T hỏi L có mua tai nghe nữa
không thì L nói lát nữa quay lại. Sau đó, L đi xe khách đến địa phận huyện T, tỉnh Bắc Ninh để tìm nơi tiêu thụ chiếc điện thoại vừa trộm cắp.
Đối với anh Nguyễn Văn K đi về nhà và tìm điện thoại nhưng không thấy. Anh K kiểm tra camera an ninh thì phát hiện hình ảnh L trộm cắp chiếc điện thoại di động nên có đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp 03 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh tại cửa hàng.
Đối với Lê Văn L đi đến địa phận huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Khi L đi qua phía sau nhà chị Nguyễn Thị Mai A, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì thấy cửa nhà mở. L đi vào trong nhà mục đích trộm cắp tài sản. L nhìn thấy chị Mai A đang nằm ngủ trên giường, ở tủ nhựa đựng quần áo cạnh giường có để một chiếc túi xách. L đi đến định kiểm tra túi xách xem có tài sản gì không để trộm cắp thì chị Mai A phát hiện. L bỏ chạy ra ngoài thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ và bàn giao cho Công an xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Lĩnh giao nộp cho Công an xã L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim số 0837.911.998; 01 chiếc điện thoại Oppo A1K, gắn sim số 0365.190.629 tại túi quần sau bên trái L đang mặc. L khai trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus tại địa bàn xã D, thành phố B. Công an xã L đã bàn giao L cùng tài liệu, vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 04/3/2024 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- - 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone 8s Plus, màu đen, bản 64G, có giá trị tại thời điểm ngày 28/02/2024 là 3.000.000 đồng.
- - Chi phí làm lại 01 sim điện thoại nhà mạng Vinaphone, số 0837.911.xxx tại thời điểm ngày 28/02/2024 là 25.000 đồng.
Cơ quan điều tra cho anh K kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus mầu đen, lắp sim thuê bao số 0837.911.998 có mật khẩu màn hình đã thu giữ của Lê Văn L. Kết quả anh K cung cấp mật khẩu màn hình “000000” thì mở được khoá màn hình. Anh K xác định đây là chiếc điện thoại của anh K bị trộm cắp ngày 28/02/2024.
Ngày 05/3/2024, Cơ quan điều tra đã cho Lê Văn L tự xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả, L xác định đúng địa điểm trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 8 Plus tại cửa hàng mua bán điện thoại di động của anh Nguyễn Văn K ở số nhà A, phố C, xã D, thành phố B và thực hiện thuần thục trộm cắp chiếc điện thoại như đã khai.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 03 đoạn video do anh Nguyễn Văn K giao nộp và 06 đoạn video được trích xuất từ hệ thống camera an ninh của Công an thành phố B có ghi lại diễn biến sự việc.
Kết luận giám định số 651/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 09 (chín) file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 08 (tám) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K gắn sim số 0365.190.629. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại này là của Phạm Thị T1, sinh năm 1975, ở địa chỉ số nhà I, ngõ A, S, Phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Chị T1 khai bị đánh rơi chiếc điện thoại ngày 27/02/2024 nhưng do điện thoại cũ, giá trị thấp nên không trình báo.
Quá trình điều tra, ban đầu L khai cùng đối tượng Nguyễn Văn C, sinh năm 1994 (L chỉ biết C nhà ở huyện S, thành phố Hà Nội, quen biết do cùng chấp hành án tại trại giam P) trộm cắp 2 chiếc điện thoại nêu trên. Sau đó L khai do sử dụng ma tuý nên khai không đúng sự thật. L lĩnh khai ngày 27/02/2024 nhặt được chiếc điện thoại Oppo A1K. Ngày 28/02/2024, L một mình trộm cắp chiếc điện thoại của anh K.
Đối với đối tượng mà L khai tên là Nguyễn Văn C, sinh năm 1994 nhà ở huyện S, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Trại giam P và tại địa bàn huyện S, thành phố Hà Nội không có đối tượng nào như trên nên không làm rõ được. Căn cứ kết quả điều tra xác định một mình L thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của anh K.
Đối với hành vi của L vào nhà chị Nguyễn Thị Mai A ở thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nhưng chưa trộm cắp được tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Công văn số 332 ngày 02/5/2024 xác định chưa đủ căn cứ buộc tội L về hành vi trộm cắp tài sản.
Về thu giữ vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Phạm Thị T1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K gắn sim số 0365.190.629; trả lại anh Nguyễn Văn K chiếc điện thoại động nhãn hiệu Iphone 8 Plus gắn sim số 0837.911.998. Anh K không yêu cầu bồi thường.
* Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều
52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 28/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/02/2024, Lê Văn L đi đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Văn K ở số nhà S, phố C, xã D, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản. Lợi dụng sơ hở, L đã trộm cắp của anh K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, bản 64G, lắp sim số 0837.911.998 trị giá 3.025.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc điện thoại và trả lại cho anh K. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần
chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xét xử về hình sự và 02 lần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học, vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có một tiền án nên lần phạm tội này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Đối với đối tượng mà L khai tên là Nguyễn Văn C, sinh năm 1994 nhà ở huyện S, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Trại giam P và tại địa bàn huyện S, thành phố Hà Nội không có đối tượng nào như trên nên không làm rõ được. Tại phiên toà, bị cáo trình bày bị cáo khai nhầm về việc cùng C thực hiện hành vi trộmg cắp. Do vậy, kết quả điều tra xác định một mình L thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của anh K là phù hợp.
[11] Đối với hành vi của L vào nhà chị Nguyễn Thị Mai A ở thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nhưng chưa trộm cắp được tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Công văn số 332 ngày 02/5/2024 xác định chưa đủ căn cứ buộc tội L về hành vi trộm cắp tài sản là đảm bảo quy định.
[12] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4
Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01(một) năm 03(ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 28/02/2024.
2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn L Trộm cắp tài sản
