|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 11 - 2023.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Nguyên Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Mỹ.
Bà Hà Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXX-ST ngày 30 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2023/QĐST- HN ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kiều O, sinh năm 1995 (có mặt)
HKTT: Số A đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp E Biển A, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
-
* Bị đơn: Anh Võ Thanh H, sinh năm 1987. (vắng mặt)
HKTT: Số A đường Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Số A đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kiều O trình bày:
Chị O1 và anh Võ Thanh H qua tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND phường V cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 165 ngày 16/9/2014.
Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống ở nhà của cha mẹ của anh H. Quá trình chung sống thì thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc. Anh chị có 02 người con chung tên Võ Thanh T, sinh ngày 09/4/2015 và Võ Thanh N, sinh ngày 04/04/2017. Tuy nhiên thời gian về sau giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, dẫn đến thường xuyên cải vã, nguyên nhân là do anh H thiếu quan tâm chăm sóc vợ con, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, thường hay cãi vả dẫn đến tình cảm rạn nứt, không thể hàn gắn được nữa nên chị O1 đã dọn về nhà mẹ ruột sinh sống từ cuối năm 2022 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc và dành tình cảm cho nhau nữa.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị O1 làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
-
Về hôn nhân: Chị O1 xin được ly hôn với anh Võ Thanh H.
-
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có hai người con chung tên Võ Thanh T, sinh ngày 09/4/2015 và Võ Thanh N, sinh ngày 04/04/2017. Chị O1 xác định hiện nay các con chung đang sống cùng với anh H, chị không muốn thay đổi môi trường sinh sống và học tập của các con nên yêu cầu giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi cháu, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
-
Về tài sản chung và nợ chung : Chị O1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Kiều O xác định giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Võ Thanh H và các yêu cầu về con chung, tài sản chung và nợ chung.
* Đối với bị đơn ông Võ Thanh H: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến nay theo quy định pháp luật, tuy nhiên anh H vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên anh H có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị O như sau:
-
Về hôn nhân: Anh H không đồng ý ly hôn với chị O.
-
Về con chung: Anh xác định anh và chị O có hai người con chung tên Võ Thanh T, sinh ngày 09/4/2015 và Võ Thanh N, sinh ngày 04/04/2017. Anh H yêu cầu được nuôi 02 người con chung và yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi cháu cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
-
Về tài sản chung và nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Võ Thanh H vắng mặt.
* Tại Biên bản lập ngày 15/9/2023, Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu Võ Thanh T (con chung giữa anh H và chị O) như sau: Cháu T xác định đang sinh sống cùng cha; cháu có nguyện vọng được sống cùng với anh H nếu cha mẹ cháu ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Phạm Thị Kiều O khởi kiện xin ly hôn với anh Võ Thanh H; có HKTT tại số A Đ, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số A M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; đồng thời yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" và theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Anh Võ Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị O đồng ý xét xử vắng mặt anh H theo quy định pháp luật; do đó Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt anh Võ Thanh H.
[3] Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kiều O và anh Võ Thanh H, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị O và anh H kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND phường V cấp giấy chứng nhận kết hôn 165 ngày 16/9/2014, nên theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Kiều O, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ vợ chồng phải dựa trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ; vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa vợ chồng chị O và anh H phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn; nguyên nhân theo chị O xác định do anh H thiếu quan tâm chăm sóc vợ con, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, thường hay cãi vả dẫn đến tình cảm rạn nứt, không thể hàn gắn được nữa nên chị O đã dọn về nhà mẹ ruột sinh sống từ cuối năm 2022 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc và dành tình cảm cho nhau nữa.
Tại phiên tòa, chị O xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không còn tình cảm do đó chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh H.
Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, phía anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến nay nhưng anh H không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, Mặc dù anh H có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị O, nhưng anh không có thiện chí hàn gắn, không có mặt để Tòa án động viên, hòa giải hàn gắn quan hệ hôn nhân cho anh chị.
Qua xem xét, đánh giá Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H đã đến mức trầm trọng, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, anh H cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của chị O là có căn cứ; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kiều O, xử cho chị được ly hôn với anh Võ Thanh H.
[5] Xét yêu cầu của chị O về việc nuôi con chung, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị O và anh H chung sống có hai người con chung Võ Thanh T, sinh ngày 09/4/2015 và Võ Thanh N, sinh ngày 04/04/2017.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị O xác định các con chung hiện đang sống cùng anh H, do anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị không muốn thay đổi môi trường sinh sống và học tập của các con nên yêu cầu giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi cháu, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Phía anh H, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh H cũng trình bày nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung trưởng thành.
Xét yêu cầu của chị O về việc giao con chung và nguyện vọng được nuôi con chung của anh H là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp nguyện vọng của con chung; do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị O, giao hai người con chung Võ Thanh T, sinh ngày 09/4/2015 và Võ Thanh N, sinh ngày 04/04/2017 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị O có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi người con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, định kỳ cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng, kỳ cấp dưỡng đầu tiên vào ngày 10 tháng 01 năm 2024.
Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị O và anh H cùng xác định quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Phạm Thị Kiều O phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị O đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0007447 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chị O phải nộp thêm số tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kiều O và anh Võ Thanh H.
-
Về quan hệ con chung: Giao hai người con chung Võ Thanh T, sinh ngày 09/4/2015 và Võ Thanh N, sinh ngày 04/04/2017 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị O có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi người con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, định kỳ cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng, kỳ cấp dưỡng đầu tiên vào ngày 10 tháng 01 năm 2024.
Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
-
Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị Kiều O phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị O đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0007447 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chị O phải nộp thêm số tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
-
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/11/2023). Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nguyên Hưng |
6
Bản án số 120/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 120/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn vì mâu thuẫn gia đình
