Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 120/2024/HS-ST

Ngày: 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Công Trung – Giáo viên trường tiểu học Hiệp Tân, quận Tân Phú
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàng – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: B N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng S và bà Nguyễn Thị Kim N; hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 03/02/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 04/02/2021. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 – Có mặt

- Bị hại: Anh Phạm Anh H, sinh năm: 1991

Thường trú: Ấp Mới, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú: 246 P, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. – Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Cháu Lý Quốc H1, sinh năm: 2016
  2. Người giám hộ: Chị Lý Kim P1, sinh năm 1994

    Thường trú: I Hòa Bình, Phường E, Quận A, Tp Hồ Chí Minh.

    Tạm trú:61/8 L, Phường B, Quận B, Tp Hồ Chí Minh. Cả hai vắng mặt.

  3. Anh Lê Hồng T
  4. Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, Nguyễn Thị Kim P cùng Nguyễn Hoàng T1 (bạn trai P) và cháu Lý Quốc H1 (con của T1, sinh ngày 12/5/2016) đi ăn cùng nhau tại Quận E. Sau đó, P điều khiển xe máy hiệu SYM Attila, biển số 95C1-076.37 chở cháu H1, còn T1 điều khiển xe Wave màu đỏ (chưa rõ biến số) đi đến quán trà sữa Bụng Mỡ của anh Phạm A H tại số B P, phường H, quận T, để mua trà sữa. Lúc này, T1 đứng bên ngoài đợi còn P và H1 điều khiển xe đi vào trong mua trà sữa. Trong lúc mua trà sữa, P phát hiện có 01 chiếc điện thoại Samsung Note 20 Ultra màu đen của anh H đang để trên bàn phía trong quán, không có người trông coi nên P nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại trên. P chỉ cho cháu H1 thấy và nói “Điện thoại kìa, vào lấy đi”, rồi P giả vờ nói chuyện với anh H để anh H không chú ý đến cháu H1 đang lấy trộm điện thoại. Sau đó, cháu H1 lấy được điện thoại trên đem ra giấu dưới mông của P và ngồi lên xe chuẩn bị chạy đi thì bị anh H phát hiện giữ P lại.

Lúc này, T1 từ bên ngoài đi vào cự cãi với anh H và chú Nguyễn Thanh T2 (hàng xóm của anh H), nên anh H đòi điện thoại báo Công an, P lo sợ nên lợi dụng lúc anh H không chú ý đã nói cháu H1 bỏ lại điện thoại trên bàn nhựa kế bên chỗ P, cháu H1 bỏ lại điện thoại rồi P định điều khiển xe bỏ đi thì anh H rút chìa khóa xe và giữ P lại, cháu H1 đi qua xe của T1 rồi T1 điều khiển xe chở H1 đi về nhà số F L, phường B, quận B. Sau đó, T1 gửi cháu H1 cho anh Nguyễn Trung T3 (em ruột T1) và cho T3 biết P có liên quan vụ trộm cắp tài sản của chủ quán trà sữa nên bị giữ lại, rồi T1 bỏ đi. Sau sự việc, anh H trình báo Công an phường H đến đưa P về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim P đã thừa nhận hành vi xúi giục cháu Lý Quốc H1 trộm cắp tài sản như nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Kết luận định giá tài sản số 327/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Note 20 Ultra màu đen, số I: 355847119470221, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 30/01/2024, trị giá 7.500.000 đồng (BL 113).

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu S1 20 Ultra màu đen, số I: 355847119470221, của anh Phạm Anh H bị mất trộm, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh H (BL 124).
  • 01 bộ quần áo màu xanh có chữ EVONIK trước ngực áo; 01 đôi dép màu nâu đen có chữ VienHong, trang phục cháu Lý Quốc H1 sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
  • 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, số Imei: 970101600299533, là điện thoại di động của Nguyễn Thị Kim P sử dụng cá nhân.
  • 01 áo khoác màu vàng trên áo có chữ LV màu đỏ; 01 quần lửng màu đen; 01 nón lưỡi trai màu rằn ri; 01 đôi dép màu trắng nâu có chữ Charles & K; 01 túi da có dây đeo màu nâu có chữ Jeep, trang phục được Nguyễn Thị Kim P sử dụng đi trộm cắp tài sản.
  • 01 xe máy hiệu Attila, màu đỏ, biển số 95C1-076.37, số khung RLGKA12ED7D014811, số máy VMVT5A-D014811, xe máy Nguyễn Thị Kim P sử dụng đi trộm cắp tài sản. Qua tra cứu, xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng (BL 120).
    • + Qua xác minh biển số 95C1-076.37, xác định biển số được cấp cho xe máy hiệu WAYXIN, màu đen, số máy VTH152FMH5018340, số khung RRHWCH8RH7A018340 do anh Lê Hồng T, địa chỉ Ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang đứng tên chủ sở hữu (BL 119). Qua xác minh, anh Lê Hồng T có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên nhưng hiện vắng mặt tại địa phương (54, 55). Cơ quan điều tra đã đề nghị đăng thông tin hỗ trợ tìm anh Lê Hồng T (BL 42A).
    • + Xe máy có số khung RLGKA12ED7D014811, số máy VMVT5A-D014811 được cấp biển số 53Z2-3497 do chị Nguyễn Thị Tuyết P2, địa chỉ 2 Đ, Phường A, Quận D đứng tên chủ sở hữu (BL 24). Qua làm việc, chị Nguyễn Thị Tuyết P2 trình bày có mua và đứng tên chủ sở hữu xe máy biển số 53Z2-3497 nhưng đã bán lại cho người khác cách đây khoảng 15 năm, không làm thủ tục sang tên và không nhớ thông tin người mua (BL 172).

Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 63/LNK ngày 05/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú

Về dân sự: Anh Phạm Anh H đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp nên không yêu cầu bồi thường dân sự

Tại Bản cáo trạng số: 120/CT-VKSQTP ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim P tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim P từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Kim P thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 20 giờ ngày 30/01/2024, Nguyễn Thị Kim P đã hành vi xúi giục cháu Lý Quốc H1 (sinh ngày 12/5/2016) trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu S1 20 Ultra màu đen, trị giá 7.500.000 đồng của anh Phạm Anh H tại quán trà sữa địa chỉ B P, phường H, quận T, thì bị phát hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

Đối với cháu Lý Quốc H1 (sinh ngày 12/5/2016) khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi trộm cắp tài sản, là có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Nguyễn Hoàng T1 không bàn bạc và không biết Nguyễn Thị Kim P xúi giục cháu Lý Quốc H1 trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra không xử lý T1 về hành vi trộm cắp tài sản, với vai trò đồng phạm, là có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P xúi giục cháu Lý Quốc H1, sinh ngày 12/5/2016 lấy trộm tài sản là thuộc trường hợp xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó cần áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo P tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim P.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác do đó Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động hiệu S1 20 Ultra màu đen, số I: 355847119470221, của anh Phạm Anh H bị mất trộm, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh H. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
  • - 01 bộ quần áo màu xanh có chữ EVONIK trước ngực áo; 01 đôi dép màu nâu đen có chữ VienHong, trang phục cháu Lý Quốc H1 sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, số Imei: 970101600299533, là điện thoại di động của Nguyễn Thị Kim P sử dụng cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo.
  • - 01 áo khoác màu vàng trên áo có chữ LV màu đỏ; 01 quần lửng màu đen; 01 nón lưỡi trai màu rằn ri; 01 đôi dép màu trắng nâu có chữ Charles & K; 01 túi da có dây đeo màu nâu có chữ Jeep, trang phục được Nguyễn Thị Kim P sử dụng đi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe máy hiệu Attila, màu đỏ, biển số 95C1-076.37, số khung RLGKA12ED7D014811, số máy VMVT5A-D014811, xe máy Nguyễn Thị Kim P sử dụng đi trộm cắp tài sản. Qua tra cứu, xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng (BL 120).
    • + Qua xác minh biển số 95C1-076.37, xác định biển số được cấp cho xe máy hiệu WAYXIN, màu đen, số máy VTH152FMH5018340, số khung RRHWCH8RH7A018340 do anh Lê Hồng T, địa chỉ Ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang đứng tên chủ sở hữu (BL 119). Qua xác minh, anh Lê Hồng T có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên nhưng hiện vắng mặt tại địa phương (54, 55). Cơ quan điều tra đã đề nghị đăng thông tin hỗ trợ tìm anh Lê Hồng T. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không rõ nguồn gốc, chưa xác định được chủ sở hữu, không còn giá trị sử dụng, do đó do đó cần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 06 tháng nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến nhận sẽ tịch thu tiêu hủy.
    • + Xe máy có số khung RLGKA12ED7D014811, số máy VMVT5A-D014811 được cấp biển số 53Z2-3497 do chị Nguyễn Thị Tuyết P2, địa chỉ 2 Đ, Phường A, Quận D đứng tên chủ sở hữu (BL 24). Qua làm việc, chị Nguyễn Thị Tuyết P2 trình bày có mua và đứng tên chủ sở hữu xe máy biển số 53Z2-3497 nhưng đã bán lại cho người khác cách đây khoảng 15 năm, không làm thủ tục sang tên và không nhớ thông tin người mua (BL 172). Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không rõ nguồn gốc, chưa xác định được chủ sở hữu, do đó do đó cần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 06 tháng nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến nhận sẽ tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. [2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
  4. Xử phạt: Nguyễn Thị Kim P 01 (một) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  5. [3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  6. [4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, số I: 970101600299533.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ quần áo màu xanh có chữ EVONIK trước ngực áo; 01 đôi dép màu nâu đen có chữ VienHong; 01 áo khoác màu vàng trên áo có chữ LV màu đỏ; 01 quần lửng màu đen; 01 nón lưỡi trai màu rằn ri; 01 đôi dép màu trắng nâu có chữ Charles & K; 01 túi da có dây đeo màu nâu có chữ Jeep.
    • - Giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng đối với: 01 biển số 95C1-076.37 và 01 xe máy có số khung RLGKA12ED7D014811, số máy VMVT5A-D014811. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến nhận thì:
      • +Tịch thu tiêu hủy đối với biển số 95C1-076.37.
      • +Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 xe máy có số khung RLGKA12ED7D014811, số máy VMVT5A-D014811.

      (Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 63 ngày 05/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T)

  7. [5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  8. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  9. [6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người giám hộ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh(1);
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (2);
  • - Phòng PC53 CА Тр. HCM (1);
  • - Nhà tạm giữ (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - NCQLNVLQ (1)
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (18)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người giám hộ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 120/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger