TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2024/HS-ST
Ngày: 12/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Kim Luyến
- Bà Nguyễn Minh Phương
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 654/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo: Phan Thị Mỹ L (Có mặt)
Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1973 Nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12.
Nơi thường trú: 107/86, Hoàng Văn T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Họ và tên cha: Lâm Văn X, không rõ năm sinh (chết).
Họ và tên mẹ: Phan Kim R, sinh năm 1933 (chết).
Anh chị em: Có 02 người, lớn sinh năm 1956 (chết), nhỏ sinh năm 1967.
Bị cáo chưa có chồng, con.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị hại: Bà Huỳnh Thị K sinh năm 1948 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số D, T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu tháng 01 năm 2023, bà Huỳnh Thị K thuê bị cáo làm giúp việc nhà và cho bị cáo ở cùng bà K tại số D, T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đến tháng 8 năm 2023, bị cáo có thiếu nợ bên ngoài không có khả năng chi trả nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà K đem bán lấy tiền trả nợ. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 20/12/2023, bà K đi tưới cây phía trước nhà, bị cáo dọn dẹp bên trong nhà. Bị cáo thấy điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng của bà K để trên bàn gần đầu giường đặt ở phòng khách. Do phòng khách có lắp camera nên bị cáo đi lại chỗ cầu dao điện cúp cầu dao ngắt điện để camera ngưng hoạt động. Khi cúp cầu dao điện xong, bị cáo lấy điện thoại cất giấu vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Mio Classico, biển số 65X3-4385. Sau đó, bọ cáo đi đến mở cầu dao điện để camera hoạt động rồi ra sau nhà cùng bà K phơi đồ và tưới cây. Khoảng 30 phút sau, bà K đi lấy điện thoại gọi cho cháu thì không tìm thấy điện thoại nên nhờ bị cáo tìm giúp thì bị cáo nói sau khi đi chợ về sẽ tìm nên bà K đồng ý. Trong lúc bị cáo ra lấy xe mô tô đi chợ thì bà K xem lại camera thấy bị cáo đi về phía cầu dao điện rồi camera ngưng hoạt động trong khoảng một thời gian ngắn. Bà K nghi ngờ bị cáo là người lấy trộm điện thoại nên đến Công an phường A trình báo. Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Công an mời bị cáo về trụ sở làm rõ vụ việc. Qua làm việc, bị cáo thừa nhận lấy trộm điện thoại của bà K và tự nguyện giao nộp lại điện thoại. Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947. Tại bản kết luận giám định tài sản số 147/KL-HĐĐG ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N: Kết luận 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947 trị giá 3.500.000 đồng. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xe mô tô hiệu Mio Classico, biển số 65X3-4385 là xe của chị Nguyễn Ngọc T1 con gái của bà Nguyễn Thị K1 đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo được chị T1 giao xe để đi chợ và chở bà K1 khi có việc cần. Việc bị cáo cất giấu điện thoại vào trong cốp xe thì chị T1 không hay biết. Đây là tài sản cá nhân của chị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội của
bị cáo.
Đối với vật chứng thu giữ là điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng của bà K1. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho bà K1, bà K1 đã nhận lại tài sản đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu.
Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKSNK ngày 05 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Phan Thị Mỹ L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 110/CT-VKSNK ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và phù hợp lời khai của bị hại, các biên bản có trong hồ sơ vụ án. Ngày 20/12/2023, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại với giá trị tài sản là 3.500.000 đồng. Hành vi bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại đã nhận lại tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với người cao tuổi nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Phan Thị Mỹ L tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Mỹ L từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947 cho bà Huỳnh Thị K.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo xin lỗi bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
- Thủ tục tố tụng: Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát ý kiến việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Phan Thị Mỹ L tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/12/2023, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại bà Huỳnh Thị K 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947 tại nhà của bà K địa chỉ: 4, T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Bị cáo có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại nên đã lấy điện thoại của bị hại cất giấu trong cốp xe mô tô biển số 65X3-4385 là xe của chị Nguyễn Ngọc T1 con gái của bà K đứng tên chủ sở hữu. Chị T1 giao xe để bị cáo đi chợ và chở bà K khi có việc cần. Sau khi bà K trình báo, Công an mời bị cáo về trụ sở làm làm việc, bị cáo thừa nhận lấy trộm điện thoại của bà K và tự nguyện giao nộp lại điện thoại.
Căn cứ kết luận giám định tài sản số 147/KL-HĐĐG ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N: Kết luận 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947 trị giá 3.500.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân nên cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Phan Thị Mỹ L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại đã nhận lại tài sản và yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bị hại là người cao tuổi nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng số 593/QĐ-ĐTTH ngày 11/3/2024: Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947 cho bà Huỳnh Thị K.
- Về án phí:
Bị cáo Phan Thị Mỹ L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Mỹ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Mỹ L 06 tháng (Sáu tháng) tù giam. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng số 593/QĐ-ĐTTH ngày 11/3/2024: Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng 64GB, IMEI: 352979097354947 cho bà Huỳnh Thị K.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Thị Mỹ L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
