Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HS-PT

Ngày: 11 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu

Ông Huỳnh Việt Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 83/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Võ Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Văn N; Tên gọi khác: Bò; Sinh ngày 12 tháng 4 năm 1989, tại tỉnh Tiền Giang; Số CMND/CCCD: [...]; Nơi thường trú: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm vườn; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Cha: Võ Văn T và mẹ: Võ Thị Đ; Bị cáo chưa vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/9/2023, chuyển tạm giam từ ngày 24/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, trong vụ án có 05 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và 01 người làm chứng không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, Công an tỉnh T phối hợp với Công an huyện C, Công an xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở K1 tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang do Lê Ngọc Hà C làm chủ, phát hiện tại phòng VIP 1 của cơ sở có 03 người khách đang ở trong phòng VIP1 gồm bị cáo Võ Văn N, Nguyễn Hoàng L và Phạm Văn T1, kiểm tra khu vực trong phòng phát hiện trên băng ghế ngồi có 01 chiếc đĩa tròn bằng sứ màu trắng, có in hoa màu hồng, trên đĩa có một ít chất bột màu trắng nghi vấn là ma túy; 01 ống bằng giấy hình trụ tròn dài 13,2cm; 01 miếng nhựa hình chữ nhật màu xanh có in chữ Mobiphone, cạnh chiếc bàn trong phòng VIP1 có 01 túi nylon màu trắng (loại túi zip) một đầu có viền màu xanh được vuốt kín bên trong có chứa một viên nén màu xanh nghi vấn là ma túy. Theo lời khai của bị cáo N thì chất bột màu trắng là ma túy Khay (loại Ketamin), viên nén màu xanh cũng là ma túy dạng kẹo (loại MDMA). Tất cả số ma túy này là của bị cáo N đem vào phòng VIP1 để sử dụng. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với bị cáo N, L và T1 đều dương tính với ma túy tổng hợp nên Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo N.

Qua kết quả điều tra xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, N cùng với L, T1 và Trần Văn M (Đ1) có ngồi chung để uống bia tại chợ V, một lúc thì M ra về trước còn lại bị cáo N, L và T1 tiếp tục ngồi uống. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, T1 bỏ ra bến xe V để kiểm tra hàng hóa bốc xếp thì bị cáo N nói có một ít “đồ” (ma tuý) rủ L đi “bay” (nghĩa là đi sử dụng ma tuý) thì L đồng ý. N điều khiển xe mô tô hai bánh đến cơ sở kinh doanh Karaoke B.Y Nhi trước rồi vào Phòng VIP1. Khi L chuẩn bị điều khiển xe đi thì T1 đi đến hỏi đi đâu, L nói với T1 là đi hát K rồi T1 tự lên xe để L chở đi.

Khi đến Karaoke B, bị cáo N có mang theo ½ viên kẹo (loại MDMA) và một ít ma túy (loại Ketamin) trong người rồi gặp nhân viên của quán là Nguyễn Lê Bình D để nhận phòng. Sau khi D giao phòng VIP1 cho N thì D đi ra ngoài. Nhơn tự động ra quầy lễ tân lấy dĩa, nhặt 01 thẻ nhựa màu xanh và 01 ống giấy tròn cạnh quầy lễ tân đem vào phòng và lấy 01 gói ma túy khây dạng bột đổ vào đĩa trắng để trên mặt bàn, còn 1/2 viên kẹo ma túy thì để trên mặt bàn kế đĩa ma túy để sử dụng. N sử dụng hai đường ma túy khây dạng bột rồi nằm lim dim mắt trên ghế, L cũng đến dĩa đựng ma túy, dùng thẻ nhựa xanh múc một ít ma túy kéo thành đường dài rồi lấy ống hút hít số ma túy trên vào cơ thể qua mũi rồi nằm xuống băng ghế ngủ, lúc này T1 đi vào phòng đến đĩa ma túy dùng ống hút giấy hít một đường ma túy vào cơ thể. Theo lời khai của Trần Văn M, khi M đến phòng VIP1 thấy có ma túy nên M tự ý đến sử dụng hút một hơi vào cơ thể rồi bỏ đi, cùng lúc này lực lượng Công an vào phòng kiểm tra bắt quả tang.

Vật chứng, đồ vật thu giữ khi bắt quả tang gồm: 01 (một) ít chất bột màu trắng được thu giữ bỏ vào túi nilon màu trắng (loại túi Z) một đầu có viền xanh được vuốt kín, túi nilon được niêm phong trong một bì thư ký hiệu A1, bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Võ Văn N; 01 (một) túi nilon màu trắng (loại túi Zip) một đầu có viền màu xanh được vuốt kín bên trong có chứa một viên nén màu xanh. Tất cả được niêm phong trong bì thư ký hiệu A2. Bên ngoài bì thư có chữ ký ghi họ và tên Võ Văn N; 01 (một) đĩa bằng sứ màu trắng, đường kính 25 cm, có bông màu hồng; 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật màu xanh có in chữ Mobifone; 01 (một) ống bằng giấy hình trụ tròn dài 13,2 cm.

2

Tại Bản kết luận giám định số 169/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng K2, Công an tỉnh T kết luận:

- Gói 1 (ký hiệu A1): Các mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8850 gam, loại Ketamine được để trong một bì thư được niêm phong kí hiệu vụ 169/1, ghi ngày 22 tháng 9 năm 2023, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên); Nguyễn Thị Kiều L2 (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (trợ lí giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ2 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,7867 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamin và 01 vỏ gói nylon màu trắng, có viền màu xanh một đầu, đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- Gói 2 (ký hiệu A2): Mẫu một phần viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2308 gam, loại MDMA. Được để trong một bì thư được niêm phong kí hiệu vụ 169/2, ghi ngày 22 tháng 9 năm 2023, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên); Nguyễn Thị Kiều L2 (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (trợ lí giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ2 (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 vỏ gói nylon màu trắng, có viền màu xanh một đầu, đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

H lại đối tượng giám định: Mẫu kí hiệu M1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,7867 gam, được niêm phong trong bì thư kí hiệu vụ số: 169/1 ghi ngày 22/9/2023. Riêng mẫu kí hiệu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định, hoàn lại bì thư kí hiệu vụ số 169/2 ghi ngày 22/9/2023

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự;
  3. Xử phạt bị cáo Võ Văn N 07 năm 03 tháng tù (Bảy năm ba tháng), thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 21 tháng 9 năm 2023

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 23 tháng 3 năm 2024, bị cáo Võ Văn N có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

3

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu hoặc tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn N thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm xét xử. Tuy nhiên bị cáo cho rằng chỉ rủ Nguyễn Hoàng L sử dụng ma túy, còn Phạm Văn T1 bị cáo không rủ mà tự đi đến và sử dụng lúc nào bị cáo không biết. Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phần xét hỏi công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, tại phòng VIP 1 quán K3 tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Võ Văn N đã tổ chức cho Nguyễn Hoàng L sử dụng trái phép chất ma túy là 0,8850 gam, loại Ketamine và 0,2308 gam, loại MDMA thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có cơ sở về tội danh nhưng quy kết bị cáo N theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ, bản thân bị cáo N chỉ rủ duy nhất Nguyễn Hoàng L đến quán K3 để sử dụng ma túy, đối với Phạm Văn T1 bị cáo không rủ mà tự đi đến và sử dụng ma túy lúc nào bị cáo không hề hay biết, điều này hoàn toàn phù hợp với lời khai của Nguyễn Hoàng L và Phạm Văn T1 trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm (BL: 70, 78, 83, 85, 176), cả hai L và T1 đều khẳng định bị cáo N không hề rủ T1 đến quán K3 để sử dụng ma túy. Do đó hành vi của Võ Văn N chỉ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cho nên căn cứ vào khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm từ khoản 2 xuống khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự cho phù hợp.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bởi lẽ, ma túy là chất hướng thần gây nghiện có tác hại nhiều mặt cho người sử dụng như sức khỏe, tinh thần là nguyên nhân làm phát sinh ra nhiều căn căn bệnh cũng như tội phạm nguy hiểm khác, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức cho người khác sử dụng ma túy là vi phạm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Cho nên phải được xử lý thỏa đáng cách ly ra khỏi xã hội thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng, cấp sơ thẩm có xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, tuy nhiên mức hình phạt cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, tại tòa đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là lao động chính, gia đình có công với cách mạng. Do đó Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

4

[4]. Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

[5]. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Văn N.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Văn N 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 21 tháng 9 năm 2023.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Võ Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của Quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam CATG
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mai Văn Hùng Cường

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 120/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, tại phòng VIP 1 quán Karaoke B.Y.N tại ấp V B, xã V K, huyện C T, tỉnh Tiền Gi, bị cáo Võ Văn N đã tổ chức cho Nguyễn Hoàng L sử dụng trái phép chất ma túy là 0,8850 gam, loại Ketamine và 0,2308 gam, loại MDMA thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Văn Nhơn phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có cơ sở về tội danh nhưng quy kết bị cáo N theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là chưa chưa chính xác thiếu cơ sở. Bởi lẽ, bản thân bị cáo Nh chỉ rủ duy nhất Nguyễn Hoàng L đến quán Karaoke B.Y.N để sử dụng ma túy, đối với Phạm Văn Th bị cáo không rủ mà tự đi đến và sử dụng ma túy lúc nào bị cáo không hề hay biết, điều này hoàn toàn phù hợp với lời khai của Nguyễn Hoàng L và Phạm Văn T, tại tòa cả hai L và T điều khẳng định bị cáo Nhơn không hề rủ Thường đến quán Karaoke B.Y.Nhi để sử dụng ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger