|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 10-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Mẳn và ông Tòng Văn Máy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Q, sinh ngày 31/12/1967 tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 05/10; Dân tộc: La Ha; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên đã đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 96-QĐ/UBKTHU ngày 07/02/2024; Con ông Lò Văn D, sinh năm 1932 và con bà Lò Thị P, sinh năm 1934; Có vợ là Lò Thị B, sinh năm 1970 và có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Duy T, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có đề nghị xử vắng mặt (đã gửi bài luận cứ bào chữa và được bị cáo đồng ý).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 19/01/2024 tại khu vực bản N, xã C, tổ công tác Công an xã C, huyện M phát hiện bắt quả tang Lò Văn Q đang có hành vi cất giấu 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 167 viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là M, Lò Văn Q khai nhận cất giấu để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 167 viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine.
Ngày 29/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: 167 viên nén hình tròn màu hồng trong gói nilon màu xanh có khối lượng là 16,01 gam, lấy ra 05 viên có khối lượng 0,48 gam làm mẫu giám định ký hiệu Q, còn 162 viên có khối lượng 15,53 gam ký hiệu Q1 nhập kho vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định số 152. Tại Kết luận giám định số 450 ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S đã kết luận: Mẫu gửi giám định Q là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,48 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ là 16,01 gam loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Lò Văn Q khai nhận: Khoảng đầu tháng 12 năm 2023 Lò Văn Q gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực giáp ranh giữa bản Nặm Hồng, xã C, huyện M và bản P, xã C, huyện M, Lò Văn Q đã hỏi và mua được của người này 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên Methamphetamine với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Lò Văn Q mang về nhà cất giấu không cho ai biết, mỗi ngày Q đều lấy ma túy ra sử dụng (quá trình sử dụng không có ai chứng kiến). Khoảng 11 giờ ngày 29/01/2024 Lò Văn Q mang theo số ma túy mua được với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã C kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo lời khai của Lò Văn Q đã bán ma túy cho Lò Văn Q vào khoảng đầu tháng 12 năm 2023, Lò Văn Q không biết tên, tuổi, địa chỉ, việc mua bán không ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai
của Lò Văn Q Cơ quan điều tra Công an huyện M không thu thập được tài liệu chứng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 83/CT-VKSML ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Lò Văn Q từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu Q1 = 15,53 gam).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Tại bản luận cứ bào chữa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết, nhận thức kém, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Người bào chữa vắng mặt nhưng đã có đề nghị xét xử vắng mặt, đã gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo và được bị cáo đồng ý. Căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt người bào chữa.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Q thừa nhận: Ngày 29/01/2024 Lò Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 16,01 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện M phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn Q đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 16,01 gam Methamphetamine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.
[5] Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông theo lời khai của Lò Văn Q đã bán ma túy cho Lò Văn Q vào khoảng đầu tháng 12 năm 2023, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
[7] Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu Q1 = 15,53 gam). Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/01/2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu Q1 = 15,53 gam).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Q.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 10/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
6
7
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA 120 ngày 10.7.2024 Lò Văn Q Tàng trữ trái phép chất ma túy
