|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 120/2024/HS-ST
Ngày: 10-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quân
2. Ông Huỳnh Hữu Tường
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 600/2024/QĐXXST-HS ngày 22/5/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Công T, sinh năm 1999; Nơi sinh: Tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: 541/26 đường T, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: (không rõ), con bà Nguyễn Thị Kim Q. Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản, theo bản án số 188/2018/HSST ngày 08/11/2018, bị cáo T đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/01/2021 và đã đóng xong án phí.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2023 (Có mặt tại phiên tòa).
Thái Hồng Thiên D, sinh năm 2004; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: C, Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: C, Ấp A, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Thái Hồng T1 (đã chết) con bà Nguyễn Thị Hương M, sinh năm 1974; Chồng, con chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2023 (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Kim Kha M1; địa chỉ: Ấp A, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công T và Thái Hồng Thiên D có mối quan hệ tình cảm nam nữ, do nghiện chất ma túy và cần tiền tiêu xài nên cả hai đã thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cụ thể như sau:
Vào khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 12/12/2023 T và D đang ở phòng số 10, khách sạn M3 tại địa chỉ số: 12/83 ấp E, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì có một người thanh niên D1 (không xác định) liên hệ qua ứng dụng xã hội Messenger cho D và hỏi mua gốc ma túy tổng hợp. Nên D nói với T việc D1 đặt mua ma túy. Sau đó T đã sử dụng điện thoại di động hiệu Vivo của T gọi cho người bán ma túy có tên lưu trong Zalo là “Tý Sói” (không xác định) và được T2 báo giá gốc ma túy tổng hợp là 800.000 đồng. Nếu T giao bán ma túy thành công thì trong số tiền 800.000 đồng nhận từ D1, “Tý Sói” sẽ cho T 100.000 đồng tiền đồ xăng. Sau khi liên lạc với “Tý Sói”, T nói lại với D, rồi D gọi báo giá cho D1 và D1 đồng ý mua. Do điện thoại T hết tiền nên D đã lấy điện thoại di động hiệu Oppo của D để gọi đến số điện thoại 0566.454.xxx và kêu “Tý Sói” giao ma túy đến trước khu vực khách sạn M3 cho T và D nhận. Một lúc sau, T và D cùng ra trước cửa khách sạn để gặp “Tý Sói”, lúc này “Tý Sói” có nói cho T và D biết việc “Tý Sói” dán gói ma túy ở hông bên phải của xe mô tô biển số: 83V1-157.10 mà T2 đang điều khiển. “Tý Sói” đã đưa xe mô tô biển số 83V1-157.10 cho T và D đi giao ma túy cho D1. Sau đó T lấy xe điều khiển chở D ngồi phía sau đi đến trước khu vực bến xe buýt H, Quận A để giao bán ma túy cho D1. Đến khoảng 03 giờ 40 phút, ngày 12/12/2023 khi T và D vừa đến trước địa chỉ số B, HT17, khu phố B, phường H, Quận A thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra. Do lo sợ bị Công an phát hiện nên D đã dùng tay phải lấy gói ma túy đang dán bên hông xe mô tô biển số 83V1-157.10 ném xuống đất tại vị trí Dung đang đứng, thì bị Công an bắt được và tang vật thu giữ toàn bộ số ma túy của cả hai cất giấu để bán cho D1 như đã nêu trên.
Hành vi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Công T và Thái Hồng Thiên D tại Phòng số 10, khách sạn M3, địa chỉ 12/83 ấp E, xã Đ, huyện H không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.
Theo Kết luận giám định số 13786/KL-KTHS, ngày 20/12/2023, của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Công T, Thái Hồng Thiên D và hình dấu Công an phường H, Quận A là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9069g (không phẩy chín không sáu chín gam), loại Methamphetamine (bút lục 42).
* Vật chứng và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 2706/23);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo model CPH1723 (tạm giữ của Thái Hồng Thiên D);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y15 (tạm giữ của Nguyễn Công T).
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S (tạm giữ của Thái Hồng Thiên D, máy bị hư không kiểm tra bên trong máy).
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y15 (tạm giữ của Nguyễn Công T).
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83V1-157.10, số máy: JA39E2588973, số khung: RLHJA392XNY092069. Xác minh xe trên có chủ sở hữu tên Kim Kha M1, sinh năm: 1982, HKTT: ấp A, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Hiền Kim Kha M2 không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu của xe mô tô biển số: 83V1-157.10 tại Tòa soạn B, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có ai liên hệ để giải quyết.
Tại Bản cáo trạng số: 163/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T và Thái Hồng Thiên D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thái Hồng Thiên D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định: Do nghiện chất ma túy và cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Công T và Thái Hồng Thiên D đã thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cụ thể: ngày 12/12/2023, một người đàn ông tên D1 liên hệ mua ma túy của D thì D đã nhờ T liên hệ người đàn ông tên “Tý Sói” để mua ma túy bán cho D1. Khoảng 03 giờ 40 phút, cùng ngày khi T và D mang ma túy đi giao cho D1, khi vừa đến trước địa chỉ số B, HT17, khu phố B, phường H, Quận A thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra bắt quả tang T và D đang vận chuyển 0,9069g ma túy loại Methamphetamine đi giao bán. Hành vi của T và D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động quản lý độc quyền đối với các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nên cần phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử xét thấy việc cách các ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo T có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm, xử phạt bị cáo mức án cao hơn bị cáo D. Tuy nhiên cần xem xét cho bị cáo T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo D phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với người bán ma túy tên “Tý Sói”, qua điều tra thu thập được số điện thoại 0566.454.xxx từ danh sách cuộc gọi trong điện thoại của Thái Hồng Thiên D và Nguyễn Công T. Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã gửi công văn yêu cầu Công ty Cổ phần V cung cấp thông tin của chủ thuê bao nêu trên. Tuy nhiên đến nay, Cơ quan CSĐT Công an Q1 vẫn chưa nhận được công văn phúc đáp, nên chưa làm việc được với chủ thuê bao nói trên. Do đó, đối với người có tên “Tý Sói” xác minh và đề nghị xử lý sau.
Đối với người thanh niên mua ma túy tên D1 thông qua mạng xã hội Mesenger, qua điều tra không xác định được lai lịch, do đó Cơ quan CSĐT Công an Q1 không đề nghị xử lý là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 2706/23);
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo model CPH1723 (tạm giữ của Thái Hồng Thiên D) điện thoại trên sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y15 (tạm giữ của Nguyễn Công T) điện thoại trên sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S (tạm giữ của Thái Hồng Thiên D), do điện thoại không sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng để tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83V1-157.10, số máy: JA39E2588973, số khung: RLHJA392XNY092069. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: sơ thẩm các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Công T: 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Thái Hồng Thiên D: 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2023.
[2]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 2706/23);
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo model CPH1723 (tạm giữ của Thái Hồng Thiên D);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y15 (tạm giữ của Nguyễn Công T).
Trả lại cho bị cáo D: 01(một) điện thoại di động hiệu S (tạm giữ của Thái Hồng Thiên D, máy bị hư không kiểm tra bên trong máy).
Giao cho cơ quan thi hành án: Tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng để tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83V1-157.10, số máy: JA39E2588973, số khung: RLHJA392XNY092069. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 134/QĐ-VKS, ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Công T và bị cáo Thái Hồng Thiên D phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Quân Huỳnh Hữu Tường |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Thị Thùy Trang |
Nơi nhận:
- - VKSND TPHCM (1b);
- - VKSND Quận 12 (1b);
- - Sở tư pháp TPHCM (1b);
- - Phòng PC53 CA TP HCM; (01)
- - CSND Công an Q12 (1b);
- - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
- - Cơ quan THADS Q. Quận 12 (1b);
- - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
- - UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
- - Bị cáo (2b);
- - Bộ phận THA Hình sự (5b);
- - Lưu (vt, hs) (8b).
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (về tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (về tội Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma túy
