Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 5 - 2024

V/v "Tranh chấp ly hôn, con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
  • 2/ Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 680/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Ngô Hoàng Lệ H, sinh năm 1978.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1978.
  • Cùng địa chỉ: A, hẻm G, đường N, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Ngô Hoàng Lệ H trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Xuân H1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đặc biệt là từ năm 2020 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông H1 để trả tự do cho nhau.
  • - Về con chung: Bà và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Phương T, sinh năm 2004. Con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Xuân H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 08/4/2024 ông H1 trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với phần trình bày của bà H về quan hệ hôn nhân. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, tình trạng mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm, hai vợ chồng chưa muốn dứt khoát ly hôn vì thương con. Tuy nhiên, nay xét thấy cuộc sống chung kéo dài chỉ thêm ngột ngạt và mệt mỏi, tuy sống chung dưới một mái nhà nhưng ông bà đã ly thân hơn một năm nay, không còn quan tâm đến cuộc của nhau nên nay bà H làm đơn ly hôn thì ông đồng ý.
  • - Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phương T, sinh năm 2004. Con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại công văn số 830/CV – VKS – DS ngày 25/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trả lời: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Hôn nhân gia đình nhận thấy: Vụ án trên do đương sự tự cung cấp chứng cứ, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT – VKSNDTC – TANDTC ngày 31/8/2016.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Xuân H1 hiện cư trú tại phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo qui định tại các Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt bà H và ông H1.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Hoàng Lệ H và ông Nguyễn Xuân H1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở cả hai tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và cương quyết xin ly hôn với ông H1 để trả tự do cho nhau. Tại bản tự khai ngày 08/4/2024, ông H1 cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng ông chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên ông đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà H và ông H1 là có thật, đều được các bên thừa nhận, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, giải quyết cho bà H được ly hôn với ông H1 để trả tự do cả hai là phù hợp.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà H và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Phương T, sinh năm 2004. Con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

  1. [5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. [6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. [7] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 56, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Hoàng Lệ H.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Hoàng Lệ H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân H1.
  2. 2. Về con chung: Con chung tên Nguyễn Phương T, sinh năm 2004 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. 3. Về tài sản chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. 4. Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. 5. Về án phí HNGĐ-ST: Bà Ngô Hoàng Lệ H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002806 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa. Bà H đã nộp xong án phí.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - Toà án tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - T1;
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu VP – HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 120/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huyền - Hiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger