Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2024/DS-ST

Ngày: 08-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Kim Lý.
  2. Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B3, tỉnh B2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2024/QÐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại C. Trụ sở chính: Số 266 - 268, N, phường V, Q, thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Vũ Bích T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thửa đất số 173, Tờ bản đồ số 26, Đ, T3, Khu phố B, thị trấn L, huyện B1, tỉnh B2; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 16/5/2024); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Hà Văn T2, sinh năm 1992. Hộ khẩu thường trú: T2, K, phường T3, thành phố B3, tỉnh B2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại C trình bày:

Ngày 20/12/2022, ông Hà Văn T2 có ký với Ngân hàng Thương mại C 01 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Hà Văn T2, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Hà Văn T2 đã thực hiện các giao dịch và các khoản phải thanh toán với số tiền 175.188.821 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Hà Văn T2 chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền 38.862.086 đồng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Hà Văn T2 không trả số nợ còn lại, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 10/12/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 08/8/2024 (ngày xét xử sơ thẩm), ông Hà Văn T2 còn nợ ngân hàng số tiền 164.649.978 đồng. Nhận thấy, hành vi của ông Hà Văn T2 đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại C. Do đó, Ngân hàng Thương mại C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B3 giải quyết như sau:

  • - Buộc ông Hà Văn T2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại C số tiền tính đến ngày 08/8/2024 là 164.649.978 đồng, trong đó:
    • Tiền nợ gốc: 119.763.435 đồng.
    • Tiền lãi trong hạn: 29.924.331 đồng.
    • Tiền lãi quá hạn: 14.962.212 đồng.
  • - Buộc ông Hà Văn T2 phải trả tiền lãi phát sinh sau ngày 08/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn (ông Hà Văn T2) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp chứng cứ, tài liệu cho Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.

Về nội dung vụ án: Bị đơn đã vi phạm thỏa thuận đã giao kết. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng đã ký kết và tại thời điểm ký kết hợp đồng, bị đơn có địa chỉ tại Tổ 1, Khu phố 1, phường Thới Hòa, thành phố B3, tỉnh B2 nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B3, tỉnh B2 theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp, hòa giải và phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về chứng cứ: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã cung cấp đủ các tài liệu, chứng cứ và không bổ sung, yêu cầu thu thập thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không có ý kiến. Do đó, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[4] Về nội dung vụ án:

[4.1] Ngày 20/12/2022, ông Hà Văn T2 có ký với Ngân hàng Thương mại C 01 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông Hà Văn T2, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Hà Văn T2 đã thực hiện các giao dịch và các khoản phải thanh toán với số tiền là 175.188.821 đồng. Xét giao dịch được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên các điều khoản có hiệu lực pháp luật, là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Ông Hà Văn T2 vi phạm nghĩa vụ, không thanh toán đủ tiền gốc, tiền lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông T2 chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền 38.862.086 đồng.

[4.2] Quá trình giải quyết vụ án, ông Hà Văn T2 không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại C và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại C đối với ông Hà Văn T2 là có cơ sở chấp nhận toàn bộ.

[4.3] Tính đến ngày 08/8/2024, ông Hà Văn T2 còn nợ Ngân hàng Thương mại C số tiền 164.649.978 đồng, trong đó:

  • Tiền nợ gốc: 119.763.435 đồng.
  • Tiền lãi trong hạn: 29.924.331 đồng.
  • Tiền lãi quá hạn: 14.962.212 đồng.

[4.4] Tiền lãi kể từ ngày 09/8/2024 được tính theo lãi suất thỏa thuận tại điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân cho đến khi ông Hà Văn T2 trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại C.

[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 293 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại C đối với ông Hà Văn T2 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1.1. Buộc ông Hà Văn T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại C tính đến ngày 08/8/2024 tổng số tiền 164.649.978 đồng (một trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng), trong đó:

  • Tiền nợ gốc: 119.763.435 đồng (một trăm mười chín triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng).
  • Tiền lãi trong hạn: 29.924.331 đồng (hai mươi chín triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng).
  • Tiền lãi quá hạn: 14.962.212 đồng (mười bốn triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm mười hai đồng).

1.2. Kể từ ngày 09/8/2024, ông Hà Văn T2 còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận tại điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân cho đến khi ông Hà Văn T2 trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại C.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng Thương mại C không phải chịu và được nhận lại số tiền 3.408.168 đồng (ba triệu bốn trăm lẻ tám nghìn một trăm sáu mươi tám đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000747 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) B3, tỉnh B2.

Buộc ông Hà Văn T2 phải nộp số tiền 8.232.499 đồng (tám triệu hai trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thế Chính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 120/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 120/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger