|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày: 08/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chi.
Bà Nguyễn Việt Hoài.
Ông Kiều Minh Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 135/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Bạch Ngọc M. Sinh ngày 26 tháng 5 năm 1990 tại Hà Nội. Tên gọi
khác: M bò. Giới tính: Nam. Căn cước công dân số [...] cấp ngày 02 tháng 4 năm 2022. Nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tư xã hộiBộ C1. Nơi đăng ký thương trú: tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Thợ cưa sắt. Con ông Bạch Chí D (đã chết) và bà Phan Thị C, sinh năm 1957. Gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con út trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án:
- - Tại bản án số 28/2009/HSST ngày 12/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1 năm 4 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị can kháng cáo và tại bản án số 119/2009/HSPT ngày 31/3/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử phạt 1 năm 4 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2008, chấp hành xong hình phạt phạt tù ngày 26/01/2010.
- - Tại bản án số 563/2010/HSST ngày 02/12/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2010.
- - Tại bản án số 720/2011/HSST ngày 30/11/2011, bị Tòa án thành phố B xử phạt 7 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 563/2010/HSST ngày 02/12/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa buộc bị cáo Bạch Ngọc Minh phải chấp hành chung cho 02 bản án là 14 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2010. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/03/2022.
Nhân thân:
- - Ngày 22/9/2004, bị Ủy ban nhân dân thành phố B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Ngày 06/11/2007, bị Tòa án thành phố Biên Hòa xử phạt 1 năm 4 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2007 theo bản án số: 656/2007/HSST, chấp hành xong hình phạt phạt tù ngày 30/05/2008.
Bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ ngày 25/4/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 167/LTG-CSHS-Đ4 ngày 28/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- - Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Huỳnh Hữu N, Phạm Thị H – Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- Địa chỉ: E đường Đ, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện hợp pháp của các bị hại: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1977.
- Địa chỉ: thôn P, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Tạm trú: khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- ĐT: 0368.689.xxx
- - Người làm chứng:
- Bà Trần Thị Cẩm M1, sinh năm 1994.
- Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1994.
- Ông Dương Minh N1, sinh năm 2005.
- Cùng địa chỉ: I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995.
- Địa chỉ: ấp I, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(bị cáo, đại diện bị hại, luật sư có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bạch Ngọc M và chị Trần Thị Cẩm M1, sinh năm 1994, nơi thường trú: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu có quan hệ tình cảm với nhau, chị M1 đi làm công nhân và thuê phòng trọ ở chung với chị gái là Trần Thị Cẩm H2, sinh năm 1992 tại nhà trọ không số thuộc tổ F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và M đã nhiều lần đến phòng trọ của chị M1 chơi và ăn uống. Khoảng tháng 02/2023, giữa M và chị M1 phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau và chấm dứt mối quan hệ tình cảm. Do M vẫn còn bực tức chị M1 nên M nảy sinh ý định dùng xăng đốt phòng trọ của chị M1 để hù dọa. Thực hiện ý định trên, khoảng 01 giờ ngày 23/4/2023, M điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 60B6-022.50 đến khu vực C thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ghé vào một quán mì gõ xin 01 can nhựa màu vàng (loại can 05 lít) rồi chạy đến cây xăng “Giang Sơn T1”, địa chỉ Quốc lộ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua 50.000 đồng xăng đựng vào can nhựa. Sau đó, M điều khiển xe mô tô chạy đến dãy phòng trọ của chị M1 ở trọ trước đây. Sau khi M và chị M1 chia tay, M đã không liên lạc được với chị M1 nên không xác định được là chị M1 có còn ở trọ tại đây nữa hay không. M chạy đến khu vực phòng trọ thì gặp anh Dương Minh N1, sinh năm 2005, nơi thường trú: xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và anh Trần Thanh H1, sinh năm 1994, nơi thường trú: xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang đang đứng hút thuốc nói chuyện ngoài đường ở trước khu vực nhà trọ, M lấy điện thoại mở hình ảnh của chị M1 lên và hỏi anh N1 và anh H1 có biết chị M1 không thì anh N1 nói không biết, anh H1 nói là chỉ biết chị M1 có thuê trọ ở khu vực này nhưng không biết chính xác là ở dãy phòng trọ nào. M điều khiển xe bỏ đi một lúc rồi quay lại dãy phòng trọ trước đó chị M1 ở vì M nghĩ là chị M1 vẫn còn đang ở trọ tại đây. M để xe mô tô ở ngoài đường (đầu hẻm dãy phòng trọ) rồi M cầm theo can xăng đi bộ vào trong dãy trọ. M thấy dãy phòng trọ có 03 phòng liền nhau, trong đó 02 phòng khóa cửa bên ngoài và 01 phòng đang đóng kín cửa không khóa bên ngoài (phòng trọ số 11). M cho rằng phòng không khóa cửa là phòng của chị M1 đang ở cùng với chị H2 nên M lấy một chiếc móc treo quần áo bằng nhôm và bẻ một đoạn dây nhôm rồi M dùng sợi dây nhôm cột vào khoen móc khóa của cánh cửa chính lại, rồi M đổ xăng ở trong can vào một cái ca nhựa màu đỏ và dùng ca nhựa để tạt xăng qua khe cửa thông gió vào bên trong phòng trọ số 11 rồi M dùng bật lửa ga đốt một miếng vải đã nhúng xăng ném vào bên trong phòng trọ, khi thấy lửa bùng cháy thì M bỏ chạy ra ngoài dãy phòng trọ và lấy xe mô tô chạy khỏi hiện trường.
Lúc này ở bên trong phòng trọ số 11 có anh Nguyễn Văn Á, sinh năm 1975, nơi thường trú: xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình cùng với vợ là chị Bùi Thị N2, sinh năm 1979 và con trai là Nguyễn Văn H3, sinh năm 2013 đang nằm ngủ ở dưới nền nhà bên trong phòng. Anh Ánh ngửi thấy mùi xăng thì thức dậy và phát hiện thấy lửa cháy ở trong phòng và ở trên người vợ, con anh Ánh nên anh Ánh chạy ra mở cửa phòng trọ để bản thân và vợ, con thoát ra ngoài nhưng do cửa phòng đã bị cột chặt ở bên ngoài nên không mở được. Anh Ánh la lớn kêu cứu thì hàng xóm nghe thấy chạy đến phá cửa phòng trọ đưa gia đình anh Ánh ra ngoài và đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện. Do bị bỏng nặng nên ngày 10/05/2023 cháu Nguyễn Văn H3 tử vong tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 Thành phố H. Đến ngày 15/05/2023, chị Bùi Thị N2 tử vong tại Bệnh viện C2 còn anh Nguyễn Văn Á bị bỏng nhẹ ở sau lưng, hai chân nên không nhập viện điều trị thương tích.
Sau khi gây án, Bạch Ngọc M bắt xe khách bỏ trốn về tỉnh Bạc Liêu đến ngày 25/4/2023 thì bị bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, M khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thể hiện:
Hiện trường tiến hành khám nghiệm là tại nhà trọ thuộc dãy trọ tổ F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình khám nghiệm hiện trường có thu giữ một số sản phẩm cháy bao gồm: Tàn tro trong phòng trọ; 06 chiếc dép nhựa bị cháy biến dạng; chất cháy khu vực dưới cửa chính và trên lỗ thông gió, chất cháy trên bàn; 01 miếng vải thắt nút có mùi xăng khu vực lối đi bên ngoài phòng trọ; 01 chiếc áo thun khu vực mảnh đất trống gần khu vực phòng trọ có chụp ảnh, vẽ sơ đồ, đo đạc.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi qua hồ sơ số 291A/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích và nguyên nhân tử vong của cháu Nguyễn Văn H3, sinh năm 2013, nơi thường trú: xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình như sau:
- - Các kết quả chính: Nhập viện trong tình trạng tiếp xúc tốt; Mạch: 140 lần/phút; huyết áp 95/70 mmHg; Tổ chức hoại tử toàn bộ hai chân, hai mông độ 3,4, vẻ mặt nhiễm trùng, nhiễm độc, vết thương hoại tử thâm nhiễm nhiều. Mạch 42 lần/phút; Huyết áp 65/47 mmHg; mê sâu, chi mát, mạch nhanh khó bắt. Đến 01 giờ ngày 10/05/2023 mạch bằng không, huyết áp không đo được, Sp02 không đo được, ngưng tim.
- - Nguyên nhân tử vong: Sốc nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết, viêm phổi nặng/bỏng lửa độ III, IV.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi qua hồ sơ số 291B/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích và nguyên nhân tử vong của nạn nhân Bùi Thị N2, sinh năm 1979, nơi thường trú: xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình như sau:
- - Các kết quả chính: Nhập viện trong tình trạng tiếp xúc tốt; Mạch: 88 lần/phút; huyết áp 110/70 mmHg; Tổ chức hoại tử thân, tứ chi, tổ chức hoại tử hai tay, chân trái, bụng, có dấu hiệu mệt, vẻ mặt nhiễm trùng, nhiễm độc, vết thương hoại tử thâm nhiễm nhiều. Thở ngáp, huyết áp tụt, Sp02, đặt nội khí quản, phỏng sâu diện rộng, nhiều hoại tử, shock nhiễm khuẩn, suy hô hấp, tuần hoàn, ngưng tim. Ngưng thở, huyết áp không đo được.
- - Nguyên nhân tử vong: Suy đa tạng, shock nhiễm khuẩn/nạn nhân bỏng xăng 59% diện tích cơ thể độ II, III.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1105/KLTTCT-TTPYĐN ngày 22/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của anh Nguyễn Văn Á, sinh năm 1977, nơi thường trú: xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình như sau:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y không định tỷ lệ cho thương tích mặt, lưng và chân hai bên đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng tại thời điểm giám định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ yêu cầu định giá tài sản một số tài sản bị cháy tại thời điểm ngày 23/04/2023 gồm: 01 (một) Tivi hiệu Samsung 46 inch; 01 (một) nồi cơm điện hiệu Cuckoo; 01 (một) loa karaoke loại nhỏ không rõ nhãn hiệu; 02 (hai) micro không rõ nhãn hiệu; 01 (một) bếp từ không rõ nhãn hiệu; 01 (một) chiếc điện thoại di động Oppo; 02 (hai) cái quạt điện gồm: 01 quạt treo tường và 01 quạt cây không rõ nhãn hiệu; 01 (một) bàn phím máy tính không rõ nhãn hiệu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 7817/STC-GCS ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai từ chối định giá do các tài sản trên đều không có hóa đơn mua bán. Sau khi sự việc xảy ra các đồ vật trên đều đã bị cháy và hư hỏng hoàn toàn. Do đó không có căn cứ xác định giá trị của tài sản.
Tại Bản kết luận giám định số 945/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ kết luận:
- -Mẫu tàn tro trong phòng trọ (mẫu M1) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
- -Mẫu 06 chiếc dép nhựa bị cháy biến dạng (mẫu M2) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
- -Mẫu chất cháy khu vực dưới cửa chính và trên lỗ thông gió, chất cháy trên bàn (mẫu M3) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
- -Mẫu miếng vải thắt nút (mẫu M4) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Văn Á đại diện các bị hại Bùi Thị N2 và Nguyễn Văn H3 yêu cầu bị cáo Bạch Ngọc M bồi thường tiền viện phí, tiền chi phí mai táng, tiền bồi thường tiền tổn thất tinh thần và thiệt hại về tài sản, cụ thể như sau:
- + Tiền viện phí của chị Bùi Thị N2 và cháu Nguyễn Văn H3 là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng).
- + Tiền chi phí mai táng của Bùi Thị N2 và Nguyễn Văn H3 là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- + Tiền tổn thất tinh thần: Theo quy định của pháp luật hiện hành.
- + Tiền bồi thường thiệt hại tài sản bị cháy theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng tỉnh Đồng Nai.
- - Anh Nguyễn Văn Á đồng thời là người bị hại trong vụ án yêu cầu bị cáo Bạch Ngọc M phải bồi thường tiền chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần, cụ thể như sau:
- + Tiền chi phí điều trị thương tích là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
- + Tiền tổn thất tinh thần: Theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đến nay bị cáo Bạch Ngọc M vẫn chưa bồi thường cho gia đình các nạn nhân và bị hại.
Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS-P2 ngày 08/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm a, b, l, n, p, q khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Bạch Ngọc Minh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội "Giết người" là đúng, không oan sai, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ, tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tội, Viện kiểm sát khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.
Bị cáo có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo.
Bị cáo phạm vào 06 tình tiết định khung hình phạt tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử bị cáo mức án tử hình.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại, xử lý vật chứng theo quy định.
Luật sư Huỳnh Hữu N, Phạm Thị H bào chữa cho bị cáo:
Khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo về tội "Giết người" theo điểm a, b, l, n, p, q khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, chấp nhận bồi thường cho gia đình bị hại, ăn năn hối cải, hợp tác với cơ quan điều tra. Đề nghị xem xét lại cho bị cáo, mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là quá cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
khoảng 01 giờ ngày 23/4/2023, Bạch Ngọc M điều khiển xe mô tô đem theo 01 can nhựa (loại 5 lít) bên trong đựng xăng chạy đến dãy phòng trọ của chị Trần Thị Cẩm M1 (bạn gái của M). Do M nghĩ chị M1 đang ở trọ tại đây. M thấy phòng trọ số A đang đóng kín cửa không khóa bên ngoài. M cho rằng phòng trọ này là của chị M1 nên M dùng sợi dây nhôm cột cửa phòng lại, tạt xăng vào bên trong và châm lửa đốt. Lúc này ở bên trong phòng trọ có anh Nguyễn Văn Á cùng với vợ là chị Bùi Thị N2 và con trai là Nguyễn Văn H3 đang ngủ. Hậu quả, chị Bùi Thị N2 và cháu Nguyễn Văn H3 bị bỏng nặng dẫn đến tử vong, anh Á bị thương nhẹ.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào các tình tiết định khung hình phạt tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là điểm a: Giết 02 người trở lên, điểm b: Giết người dưới 16 tuổi, điểm l: Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người, điểm n: Có tính chất côn đồ, điểm p: Tái phạm nguy hiểm, điểm q: Vì động cơ đê hèn.
Đã có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Bạch Ngọc Minh về tội "Giết người" đã phạm vào điểm a, b, l, n, p, q khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo Bạch Ngọc M2 là rất nguy hiểm cho xã hội, đã tước đoạt mạng sống của nhiều người, thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo trước đó đã có nhiều tiền án, không lấy đó làm bài học để phấn đấu, tu dưỡng bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm hại và tước đoạt mạng sống của 02 người, gây đau thương mất mát rất lớn cho gia đình các nạn nhân nên cần xử bị cáo mức án tương xứng.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân rất xấu, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, khả năng cải tạo giáo dục bị cáo không còn, cần thiết phải loại bỏ bị cáo vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội nhằm trừng trị bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại là anh Nguyễn Văn Á yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản sau:
Chi phí chữa trị thương tích cho 02 người là 400.000.000 đồng.
Chi phí mai táng cho 02 người đưa về quê Thái Bình là 200.000.000 đồng.
Chi phí tổn thất tinh thần là 180.000.000 đồng.
Tiền cấp dưỡng cho mẹ vợ đã hết tuổi lao động là 4.680.000 đồng/tháng.
Căn cứ quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản sau:
Cháu Nguyễn Văn H3 (đã chết) có tổng chi phí chữa trị thương tích là 250.151.242 đồng, bảo hiểm đã chi trả 196.821.593 đồng. Số tiền còn lại là 63.196.498 đồng buộc bị cáo phải bồi thường (Bút lục 872).
Tiền mai táng chở về quê ở Thái Bình là 100.000.000 đồng.
Chị Bùi Thị N2 (đã chết) có tổng chi phí chữa trị thương tích là 250.000.000 đồng.
Tiền mai táng chở về quê ở Thái Bình là 100.000.000 đồng.
Tiền tổn thất tinh thần là 234.000.000 đồng.
Chi phí chữa trị thương tích cho anh Nguyễn Văn Á là 5.000.000 đồng.
Tài sản bị cháy (không định giá được) bị hại, bị cáo thỏa thuận là 5.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền là 757.196.498 đồng.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 06 chiếc dép nhựa bị cháy biến dạng, 01 miếng vải thắt nút có mùi xăng, 01 chiếc áo thun, 01 chiếc bật lửa ga màu trắng, 01 chiếc mũ bảo hiểm mô tô màu đen, 01 chiếc áo khoác màu xám, 01 sợi dây nhôm.
- - Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 60B6-022.50, số máy 1S9A-002921, số khung RLCE1S9A0BY002917, dung tích xi lanh 134cm3 của bị cáo M2 để đảm bảo việc thi hành án.
[5] Ý kiến và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Ý kiến của các Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ phù hợp các tình tiết giảm nhẹ mà Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 34.287.859 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b, l, n, p, q khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bạch Ngọc Minh phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Bạch Ngọc Minh mức án tử hình.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/4/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 590, 591 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Bạch Ngọc Minh phải bồi thường cho gia đình bị hại có đại diện là anh Nguyễn Văn Á số tiền 757.196.498 đồng (Bảy trăm năm mươi bảy triệu một trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi tám đồng).
Kể từ ngày người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Bạch Ngọc Minh chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tịch thu tiêu hủy: Tàn tro trong phòng trọ, 06 chiếc dép nhựa bị cháy biến dạng, chất cháy khu vực dưới cửa chính và trên lỗ thông gió, chất cháy trên bàn, 01 miếng vải thắt nút có mùi xăng, 01 chiếc áo thun (đã được đóng gói niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định của Phòng PC09 ngày 20/7/2023 kèm theo Kết luận giám định số 945/KL-KTHS ngày 16/5/2023); 01 chiếc bật lửa ga màu trắng; 01 chiếc mũ bảo hiểm mô tô (ghi chữ nón sơn) màu đen; 01 chiếc áo khoác màu xám - trắng trên áo ghi chữ Blasting; 01 chiếc balo màu đỏ đen; 01 sợi dây nhôm dài khoảng 26cm (loại nhôm móc để phơi đồ) màu trắng.
Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 60B6-022.50, số máy 1S9A-002921, số khung RLCE1S9A0BY002917 (số khung số máy không bị đục, sửa, cắt, hàn và các ký tự không bị mờ theo Kết luận giám định xe số 837/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ), dung tích xi lanh 134cm3 của bị cáo M2 để đảm bảo việc thi hành án.
Tình trạng vật chứng, tài sản: Gói niêm phong số 945/KL-KTHS ngày 16/5/2023 còn nguyên niêm phong. 01 xe mô tô biển số 60B6-022.50 đã qua sử dụng, cũ, không kính chiếu hậu hai bên, không chìa khóa xe, không khởi động được, thiếu ốc vít một số chỗ trên thân xe, không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong xe. Tất cả vật chứng còn lại đều đã qua sử dụng, cũ.
(Biên bản giao nhận vật chứng NK24/121 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm 34.287.859₫ (Ba mươi bốn triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm năm mươi chín đồng).
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án Bạch Ngọc M2 có quyền làm đơn xin Chủ tịch N3 ân giảm hình phạt tử hình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán ................................ |
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Thu Minh |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Bản án số 120/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (giết người)
- Số bản án: 120/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bạch Ngọc Minh
